CEFURDS

Phát triển không gian Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh qua các bản đồ

(CEFURDS) - Sáng ngày 18/4/2017, tại khu vực tiền sảnh Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh đã diễn ra buổi báo cáo chuyên đề “Phát triển không gian đô thị của Sài Gòn dưới thời Pháp thuộc (từ thế kỷ 18 đến năm 1954) thể hiện qua các bản đồ” do diễn giả PGS.TS.Tôn Nữ Quỳnh Trân - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển trình bày. Đây là buổi sinh hoạt khoa học nằm trong Tuần lễ kỷ niệm ngày sách Việt Nam (21/4/2017) và ngày sách, bản quyền thế giới (23/4) do Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh tổ chức.


Tham dự buổi báo cáo chuyên đề có bà Nguyễn Thị Mai Thy - Phó Giám đốc Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, ThS. Lê Văn Năm - Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển, TS. Trương Hoàng Trương - Trưởng khoa Đô thị học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh... và nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bạn trẻ quan tâm đến lịch sử phát triển đô thị của Thành phố cùng có mặt.

IMG 3694 1

Trình bày tại buổi báo cáo, PGS.TS. Tôn Nữ Quỳnh Trân cho biết chuyên đề này là kết quả nghiên cứu rút gọn của đề tài Phát triển không gian đô thị của Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh thể hiện qua các bản đồ (từ thế kỷ XVIII đến 2005) được thực hiện trong suốt 3 năm (2010-2013) do Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển thực hiện. Trong thời lượng hơn 2 giờ đồng hồ, diễn giả đã trình bày và đưa ra những nhận xét mang tính khoa học, khách quan về quá trình phát triển không gian đô thị của thành phố Sài Gòn qua các thời kỳ lịch sử.

Sài Gòn từ trước năm 1698 đến năm 1802 đã trải qua những vai trò khác nhau qua nhiều giai đoạn lịch sử. Thoạt đầu, Sài Gòn chỉ là vùng đất biên viễn xa xôi đang trong quá trình khai phá, chịu sự cai quản lỏng lẻo của các Chúa Nguyễn. Đến khi Nguyễn Ánh vào đóng lực lượng tại đây, Sài Gòn trở thành thủ phủ của Nam Bộ, có vai trò chính trị quan trọng đối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Dưới triều Nguyễn, với việc Huế được lập thành Kinh Đô, Sài Gòn mất đi vai trò chủ đạo chính trị mà đô thị này đã có được vào cuối thế kỷ XVIII. Dù vai trò có thay đổi, nhưng không gian đô thị Sài Gòn vẫn phát triển không ngừng cho đến khi người Pháp chiếm đóng và thực hiện ý đồ quy hoạch của mình trên đô thị này.

Trong giai đoạn từ năm 1859 đến 1919, chịu tác động mạnh từ các chính sách của chính quyền thuộc địa, Sài Gòn dần dần định hình thành một đô thị có quy hoạch ngăn nắp, có hạ tầng xã hội tương đối đầy đủ và cơ sở hạ tầng đáp ứng kịp với phát triển xã hội. Thoát thai từ một đô thị điển hình của Việt Nam thời Nguyễn, Sài Gòn đã thay đổi mang tính bước ngoặt về không gian vật thể với hệ thống đường sá mở rộng, kênh rạch hợp lý, đường sắt, đường điện tín đáp ứng nhu cầu giao thông, liên lạc, các công trình dinh thự không những phù hợp với nhu cầu quản lý mà còn là những công trình mang tính mỹ thuật đô thị cao…, thì không gian xã hội cũng phát triển không kém. Tầng lớp tư sản ra đời cùng sự xuất hiện của giai cấp công nhân, giới trí thức yêu nước, trong đó có nữ giới, với vốn Tây học đã làm cho xã hội Sài Gòn càng phong phú độc đáo.

IMG 3700 1

Toàn cảnh buổi báo cáo

Trong giai đoạn 1919-1945, Sài Gòn-Chợ Lớn từ hai đô thị riêng lẻ đã nhập vào làm một, được gọi là Khu Sài Gòn – Chợ Lớn (1931). Tuy việc sáp nhập mang tính chất hành chính, nhưng phản ánh được thực chất phát triển đô thị của hai thành phố này, vì các yếu tố hạ tầng đô thị nối liền hai thành phố đã có từ trước, làm nền tảng cho sự hợp nhất này. Về mặt giao thông, hai thành phố đã được nối chặt chẽ với nhau cả về đường thủy lẫn đường bộ. Về đường thủy có kênh Tàu Hũ và rạch Bến Nghé, vào giai đoạn này lại có thêm con kênh Đôi và kênh Tẽ. Về đường bộ có đường Route Stratégique de Cholon à Saigon (đại lộ Trần Phú), Route haute de Cholon à Saigon (Nguyễn Trãi), Route basse de Cholon à Saigon – Đường “dưới” Chợ Lớn - Sài Gòn (Bến Hàm Tử - Chương Dương), thì vào giai đoạn này, còn có thêm đại lộ Gallieni (Trần Hưng Đạo) rộng rãi, tiện lợi. Việc sáp nhập còn đưa đến hiệu ứng tích cực cho nền kinh tế của Sài Gòn - Chợ Lớn hợp nhất. So sánh nền kinh tế của hai thành phố, ta thấy các lĩnh vực hoạt động kinh tế của hai nơi không giống nhau hoàn toàn. Giữa hai thành phố có một sự phân công hợp lý về hoạt động kinh tế. Trong khi Chợ Lớn mạnh về hàng hóa thì Sài Gòn lại mạnh trong hoạt động xuất khẩu. Sự phát triển kinh tế của hai thành phố là sự phối hợp nhịp nhàng giữa các tiềm năng tại chỗ với các yếu tố ngoại lai.

Từ năm 1945 đến năm 1954 là giai đoạn của cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp. Những cuộc chiến ác liệt, những bất ổn về chính trị đã ảnh hưởng mạnh lên tình hình kinh tế - xã hội của Sài Gòn khiến Thành phố không có những bước phát triển tích cực về không gian vật thể cũng như về kinh tế, xã hội, văn hóa. Sự mở rộng thiếu qui hoạch của Thành phố, dân số tăng nhanh, lại thêm sự yếu kém trong quản lý đã dẫn đến những hậu quả tiêu cực như cơ sở hạ tầng bị quá tải, môi trường bị ô nhiễm, các khu nhà ổ chuột lan rộng.. Cuộc sống Sài Gòn không ổn định vì những cuộc chuyển đổi quyền lực. Sài Gòn liên tiếp bị thay đổi về thể chế chính trị, về tập đoàn lãnh đạo, và liên tiếp hứng chịu những hậu quả của chiến tranh. Con đường phát triển đô thị của Sài Gòn trong thời gian này đã xuất hiện nhiều thách thức. Trong vòng 10 năm ấy, dân số của Sài Gòn đã tăng lên gấp ba, còn hạ tầng đô thị thì không được nâng cấp. Tình hình xã hội bất an thể hiện ở việc xây thêm các khu doanh trại và trại giam nằm giữa hai đô thị và về phía Tây bắc của Sài Gòn, thể hiện tính chất quân sự của thành phố. Trong tình hình bất an như thế, hẳn nhiên kinh tế của Sài Gòn đã không có được những bước phát triển đáng chú ý.

Vũ Ngọc Thành 

Một số vấn đề về hoạt động tư vấn giám sát

 

Tư vấn giám sát (TVGS) chất lượng công trình xây dựng có nhiệm vụ chính là giúp chủ đầu tư giám sát về chất lượng, khối lượng, tiến độ, an toàn lao động và môi trường trong thi công xây dựng công trình theo nhiệm vụ thỏa thuận với chủ đầu tư trong hợp đồng kinh tế. Chủ thể TVGS không trực tiếp làm ra sản phẩm công trình xây dựng, nhưng lại là một nhân tố quan trọng quyết định việc kiểm soát chất lượng của một công trình xây dựng. 

Chưa bám sát hiện trường 

 

Thực trạng công tác TVGS trong nước hiện nay đang còn tồn tại nhiều bất cập ở các khâu đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề, mức thu nhập, năng lực chuyên môn, quyền hạn và trách nhiệm trong công việc, xử lý vi phạm đối với các hành vi tiêu cực.

Ảnh: tại công trình Newskyline, Hà Đông 

 

Năng lực chuyên môn, kinh nghiệm của đội ngũ TVGS chưa đồng đều, nhất là kiến thức chuyên môn đối với các hạng mục công việc có tính chất kỹ thuật phức tạp. Công tác đào tạo trong việc hành nghề hoạt động xây dựng nói chung hiện nay tại một số tổ chức chưa tốt, hoạt động mang tính hình thức còn nặng về lợi nhuận, không chú trọng vào công tác chất lượng đào tạo. Công tác cấp chứng chỉ hành nghề TVGS được giao cho các địa phương thực hiện, tuy nhiên việc quy định điều kiện để cấp chứng chỉ còn hình thức, chưa có cơ chế sát hạch, kiểm tra để đảm bảo người được cấp chứng chỉ có năng lực phù hợp với lĩnh vực được cấp chứng chỉ hành nghề. Hệ thống đăng tải thông tin về tổ chức, cá nhân hành nghề TVGS mặc dù đã được xây dựng nhưng chưa vận hành hiệu quả. 

Việc đào tạo, sát hạch và cấp chứng chỉ hành nghề TVGS chưa được kiểm soát chặt chẽ. Do đó, trong nhiều trường hợp TVGS chưa thực hiện nghiêm túc chức trách, nhiệm vụ của mình, không kiểm soát được chất lượng công trình trong quá trình thi công của nhà thầu; không bám sát hiện trường để kịp thời xử lý các phát sinh bất hợp lý, chưa kiên quyết xử lý các vi phạm về chất lượng trong quá trình thực hiện dự án. 

Một số tổ chức, cá nhân TVGS chưa thực hiện đúng nghĩa vụ, quyền hạn theo quy định, cá biệt có trường hợp còn phụ thuộc vào chủ đầu tư và nhà thầu dẫn đến không thể nâng cao vai trò trách nhiệm trong công việc. 

Mức thu nhập thực nhận đối với những cá nhân tham gia công tác TVGS đang còn thấp, chưa tương xứng khi làm việc trong lĩnh vực “nhạy cảm” này. Điều này là một trong những nguyên nhân dẫn đến một bộ phận đội ngũ TVGS vi phạm đạo đức nghề nghiệp, ở một số trường hợp còn có hành vi tiêu cực, thông đồng, thỏa thuận với nhà thầu thi công làm ảnh hưởng đến chất lượng thi công và xây dựng công trình. 

Chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với các tổ chức, cá nhân TVGS chưa được quy định cụ thể gây khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước trong xử lý khi phát hiện các hành vi vi phạm, do đó làm giảm tính răn đe và hiệu lực quản lý của pháp luật đối với hoạt động TVGS. 

Quy định rõ hành vi vi phạm 

Để hạn chế những tồn tại, bất cập nêu trên, bài viết xin đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường vai trò quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước với hoạt động TVGS. 

1. Cơ quản quản lý nhà nước cần hoàn thiện và đưa vào vận hành trang thông tin điện tử quản lý cơ sở dữ liệu về thông tin của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động TVGS, kể cả nhà thầu và cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (bao gồm thông tin về chữ ký cá nhân, hồ sơ lý lịch, quá trình học tập và công tác, vi phạm pháp luật, kỷ luật, khen thưởng của cá nhân hành nghề TVGS; thông tin về năng lực của tổ chức hành nghề TVGS...) Yêu cầu các tổ chức, cá nhân phải bắt buộc đăng ký trước khi tham gia hành nghề TVGS. Đây là cơ sở dữ liệu quan trọng để các chủ đầu tư căn cứ kiểm tra thông tin và lựa chọn được tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực phù hợp thực hiện công tác TVGS. 

2. Cần quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hành nghề TVGS, từ đó ban hành chế tài xử lý vi phạm cụ thể, trong đó quy định rõ các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt đủ mạnh (bao gồm phạt tiền, cấm hành nghề, các trường hợp xử lý hình sự đối với tổ chức, cá nhân TVGS) và có biện pháp tổ chức thực hiện nghiêm để đảm bảo tính răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân thực hiện giám sát công trình xây dựng. 

3. Có cơ chế thích hợp như khen thưởng, ưu tiên nhận thầu... để khuyến khích các tổ chức, cá nhân TVGS thực hiện tốt quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình; thực hiện giám sát các công trình đạt chất lượng cao. 

4. Điều chỉnh lại định mức chi phí cho công tác TVGS. Hiện nay chi phí TVGS cho các dự án được thực hiện giám sát bởi các đơn vị tư vấn trong nước, nhất là công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách phần lớn được thực hiện theo quyết định số 957/QĐ-BXD ngày 29/9/2009. Nhìn chung mức thu nhập của các cá nhân tham gia công tác giám sát còn thấp, dẫn đến phát sinh các hiện tượng tiêu cực. Nên đối với lĩnh vực TVGS cần tăng định mức chi phí. 

5. Tăng cường rà soát, kiểm tra công tác đào tạo TVGS. Đổi mới việc cấp chứng chỉ hành nghề theo hướng tổ chức sát hạch để công tác cấp chứng chỉ hành nghề đảm bảo thực chất và tránh tiêu cực. 

Để giải quyết được những vấn nêu trên, cần sửa đổi quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 209/2004/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, Nghị định số 23/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng... để trình Chính ban hành và ban hành theo thẩm quyền và sớm ban hành các Thông tư hướng dẫn tổ chức thực hiện. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng các cấp cần tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hoạt động TVGS trong hoạt động xây dựng hiện nay.

 

Phạm Sơn 

(Theo http://ashui.com

TP.HCM ban hành quy định về tiền sử dụng đất vượt hạn mức

UBND TP.HCM đã ban hành Quyết định số 64/2011 (ngày 15.10) về  việc nộp tiền sử dụng đất (SDĐ) của hộ gia đình, cá nhân cho phần diện tích vượt hạn mức đất ở theo hướng dẫn tại Thông tư 93 của Bộ Tài chính.


Theo đó, diện tích đất ở vượt hạn mức được áp dụng hệ số điều chỉnh giá đất tính thu tiền SDĐ không quá 50% quy định hạn mức giao đất ở mới trên địa bàn quận, huyện.

Đối với phần diện tích vượt hạn mức lớn hơn 50% hạn mức, giao UBND quận, huyện thuê tổ chức thẩm định giá sát với giá thực tế thị trường. Sau đó, UBND quận, huyện tổ chức nghiệm thu chứng thư và có văn bản báo cáo Sở Tài chính thẩm định lại trình UBND TP xem xét, quyết định.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu chuyển mục đích SDĐ sang đất ở thì phần diện tích vượt hạn mức phải nộp tiền SDĐ sát với giá thực tế trong điều kiện bình thường.

Chi phí thuê tổ chức thẩm định giá sẽ được ngân sách nhà nước chi trả bằng phương thức khấu trừ vào số tiền SDĐ ở phải nộp của hộ gia đình, cá nhân.

Việc thuê thẩm định giá phần đất ở ngoài hạn mức của hàng ngàn hộ dân là việc làm hết sức phức tạp - ảnh: D.Đ.M

Cũng theo quyết định này, hệ số điều chỉnh giá đất tính thu tiền SDĐ đất ở đối với hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn TP là hai lần giá đất ở do UBND TP quy định và công bố hằng năm.

Cách tính cụ thể: Đối với vị trí mặt tiền đường, tiền SDĐ cho phần vượt hạn mức đất ở của hộ gia đình, cá nhân sẽ bằng giá đất được quy định tại bảng giá đất do UBND TP ban hành và công bố hằng năm nhân (x) hai lần.

Ví dụ: ông C có 200m2 đất mặt tiền đường Nguyễn Hồng Đào, Q.Tân Bình, được chuyển mục đích SDĐ ở, thuộc trường hợp phải nộp 100% tiền SDĐ. Căn cứ Quyết định 64, ông C có 40m2 vượt hạn mức nên tiền SDĐ của ông C phải nộp gồm hai phần. Phần trong hạn mức là 160 x 8.800.000 đồng (đơn giá trong bảng giá đất năm 2011 do TP ban hành cho đường Nguyễn Hồng Đào) = 1 tỉ 408 triệu đồng. Phần ngoài hạn mức là 40 x 8.800.000 đồng x 2 (hệ số điều chỉnh) = 704 triệu đồng. Tổng cộng tiền SDĐ của ông C phải nộp cho 200m2 là 2 tỉ 112 triệu đồng.

Đối với vị trí không mặt tiền, căn cứ vào cấp hẻm, loại hẻm, giá đất để xác định giá đất ở vị trí không mặt tiền rồi nhân (x) hai lần. Những trường hợp chưa có quy định, giao liên sở Tài chính, Tài nguyên và môi trường, Xây dựng và Cục Thuế hướng dẫn thực hiện theo quy định.

Ví dụ, cũng ở trường hợp ông C, nếu nhà thuộc hẻm đường Nguyễn Hồng Đào, Q.Tân Bình, được xác định bằng 50% đơn giá đường này (tức bằng 4.400.000 đồng). Tiền SDĐ của diện tích đất trong hạn mức: 160m2 x 4.400.000 đồng = 704 triệu đồng. Tiền SDĐ của phần ngoài hạn mức: 40m2 x 4.400.000 đồng x 2 (hệ số điều chỉnh) = 352 triệu đồng. Tổng cộng ông C phải nộp 1 tỉ 56 triệu đồng.

Trước đó Thanh Niên đã có nhiều bài viết phản ánh việc Thông tư 93 của Bộ Tài chính chỉ yêu cầu thẩm định giá đối với các trường hợp đất làm dự án của các tổ chức kinh tế (tại TP.HCM, chỉ cần thẩm định giá đối với lô đất có giá trị trên 15 tỉ đồng). Quy định của TP.HCM đã làm phức tạp thêm tình hình khi yêu cầu thẩm định giá đối với hàng ngàn trường hợp người dân có đất ở vượt hạn mức. Chưa kể việc thuê thẩm định giá phần đất ở ngoài hạn mức của hàng ngàn hộ dân là một việc làm hết sức tốn kém và phức tạp.

 Đ.Quân

(Theo Thanhnienonline)

Bài toán khó từ tái định cư

(TT&VH) - Theo thống kê sơ bộ của Sở Xây dựng TP.HCM, từ 1998  đến 2010, thành phố đã và đang triển khai thực hiện 1.093 dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật với tổng chi phí bồi thường là 82.170 tỷ đồng.

Xem tiếp...

Nghị định mới về bồi thường thu hồi đất: Tách bạch giữa bồi thường và hỗ trợ

TT (Hà Nội) - Chiều 20-8, Bộ Tài nguyên - môi trường (TN-MT) đã họp báo giới thiệu về những điểm mới của nghị định 69 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư (có hiệu lực từ ngày 1-10).

Xem tiếp...

Hình ảnh đô thị


Xem hình ảnh về đô thị Sài Gòn tại đây.