CEFURDS

ĐBSCL có thêm một tuyến đường cao tốc

Nối tiếp đường cao tốc TP HCM - Trung Lương, miền Tây có thêm một tuyến đường cao tốc đi qua hai tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long để về Cần Thơ với vốn đầu tư trên 9.200 tỷ đồng.


 

Ngày 19-10, ông Dương Tuấn Minh - Tổng giám đốc Tổng Công ty Đầu tư phát triển và quản lý dự án hạ tầng giao thông Cửu Long - cho biết đã làm việc với UBND TP Cần Thơ để thông báo tổng mức đầu tư dự án xây dựng đường cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ với hơn 9.200 tỷ đồng. Trong đó gồm tiền bồi thường giải phóng mặt bằng, quản lý dự án, tư vấn với các chi phí xây dựng...

Nguồn vốn đầu tư làm đường cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ  được huy động từ ngân sách Nhà nước, thu phí cầu Cần Thơ trong 5 năm, vốn vay và vốn của các nhà đầu tư khác.

Theo ông Minh, dự án này có tổng chiều dài hơn 32 km trong đó đường cao tốc chính dài 24,5 km, tuyến nối 7,82 km do Tổng Công ty Đầu tư phát triển và quản lý dự án hạ tầng giao thông Cửu Long làm chủ đầu tư. Đây là đường thuộc loại A với quy mô 6 làn xe trong đó có 2 làn dừng xe khẩn cấp.

Dự án nối tiếp đường cao tốc TP HCM - Trung Lương (Tiền Giang) được thiết kế xuyên qua Đồng Tháp và Vĩnh Long, điểm đầu tại Km107 + 170,39 thuộc nút giao thông Quốc lộ 80, điểm cuối tại Km131 + 670,711 của nút giao thông Trà Và nằm giao nhau giữa Quốc lộ 1A thuộc điểm đầu cầu Cần Thơ bên phía huyện Bình Minh, Vĩnh Long.

Theo kế hoạch đường cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ được khởi vào năm 2012, hoàn thành đưa vào sử dụng cuối năm 2014.

Bảo Trân

Theo Nguoidothi.vn

TP. Hồ Chí Minh: quy chế tổ chức và hoạt động của ban an toàn giao thông

UBND TPHCM đã ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban An toàn giao thông TPHCM.


Theo đó, Ban chịu sự chỉ đạo trực tiếp của UBND TPHCM, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn và kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia. Ban có nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất UBND TPHCM về kế hoạch và các biện pháp phối hợp các sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện thực hiện các giải pháp bảo đảm trật tự an toàn giao thông trên địa bàn TPHCM; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, đề xuất UBND TPHCM các mô hình, giải pháp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn về bảo đảm trật tự an toàn giao thông và khắc phục ùn tắc giao thông trên địa bàn TPHCM; giúp Chủ tịch UBND TPHCM chỉ đạo và đôn đốc kiểm tra việc phối hợp hoạt động của các ngành, các tổ chức và đoàn thể trong lĩnh vực bảo đảm trật tự an toàn giao thông và khắc phục ùn tắc giao thông trên địa bàn TPHCM...

Trụ sở tạm thời của Ban An toàn giao thông TPHCM đặt tại số 63, đường Lý Tự Trọng, phường Bến Nghé, quận 1.

Theo Nguoidothi.vn

Năm 2012, tiếp tục kiểm soát chặt cho vay BĐS và chứng khoán

TNO) Chính phủ chủ trương năm 2012 tiếp tục giám sát chặt chẽ hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại; bảo đảm vốn cho sản xuất; kiểm soát chặt cho vay bất động sản (BĐS) và kinh doanh chứng khoán (CK).


Đây là một trong những nội dung đáng chú ý trong Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội (KT-XH) năm 2011, kế hoạch phát triển KT-XH năm 2012 và 5 năm 2011 - 2015, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa báo cáo tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội (QH) khóa 13 diễn ra sáng nay 20.10.

Phấn đấu kiềm chế lạm phát dưới 10% trong năm 2012

Trong báo cáo, Thủ tướng nêu rõ những thuận lợi cũng như khó khăn thách thức trong thực hiện nhiệm vụ KT-XH năm 2012 và 5 năm 2011 - 2015 và nhấn mạnh phát triển KT-XH 5 năm tới thực hiện theo mục tiêu Đại hội XI đã đề ra.

Trước mắt, trong năm 2012, mục tiêu tổng quát là ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đi liền với đó là bảo đảm phúc lợi xã hội, an sinh xã hội và cải thiện đời sống nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế.

Về các chỉ tiêu chủ yếu, Thủ tướng cho biết năm 2012 phấn đấu kiềm chế lạm phát dưới 10%, các năm sau thấp hơn, đến năm 2015 lạm phát khoảng 5 - 7%; phấn đấu GDP năm 2012 tăng 6 - 6,5%.

“Để chủ động ứng phó với diễn biến phức tạp của tình hình và tập trung cho nhiệm vụ ổn định kinh tế vĩ mô, Chính phủ đề nghị điều hành theo phương án tăng trưởng khoảng 6%, khi có điều kiện thuận lợi sẽ phấn đấu để đạt mức 6,5%”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Còn trong giai đoạn 2011 - 2015, Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,5 - 7%. Phấn đấu đạt 7%.

Bên cạnh các chỉ tiêu về tăng trưởng, kiềm chế lạm phát, Chính phủ cũng đặt chỉ tiêu năm 2012, bội chi ngân sách nhà nước bằng 4,8% GDP, các năm sau giảm dần để đến năm 2015 giảm xuống còn 4,5%. Đến năm 2015, nợ công khoảng 60 - 65% GDP…

Kiềm chế lạm phát vẫn là ưu tiên số 1

Trong 7 nhóm nhiệm vụ và giải pháp phát triển KT-XH năm 2012 và 5 năm tới, Chính phủ xác định năm 2012, việc ổn định kinh tế vĩ mô phải được xác định là nền tảng quan trọng cho việc thực hiện nhiệm vụ trong cả giai đoạn 2011 - 2015 với các trọng tâm là kiểm soát lạm phát, bình ổn thị trường giá cả, cải thiện cán cân thanh toán và phấn đấu giảm bội chi ngân sách.

Về lạm phát, Chính phủ nhận định lạm phát tăng cao có nguyên nhân bên ngoài do giá nguyên liệu, vật tư nhập khẩu tăng… nhưng nguyên nhân chủ yếu là do hệ quả của việc nới lỏng chính sách tiền tệ, tài khóa kéo dài trong nhiều năm để đáp ứng yêu cầu đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong khi cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư còn kém hiệu quả; cùng những hạn chế trong quản lý điều hành và tác động cộng hưởng của các yếu tố tâm lý.

“Để kiềm chế lạm phát, phải kiên quyết khắc phục các nguyên nhân chủ yếu nói trên”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Để thực hiện mục tiêu “ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế”, Chính phủ chủ trương điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và linh hoạt theo tín hiệu thị trường; kết hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiểm soát lạm phát, bảo đảm tăng tổng phương tiện thanh toán và tăng dư nợ tín dụng hàng năm không vượt quá mức đề ra trong Nghị quyết 11.

Song song đó, phải giữ mặt bằng lãi suất hợp lý. Điều hành tỷ giá chủ động, phù hợp, không để biến động lớn. Giám sát chặt chẽ hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại; bảo đảm vốn cho sản xuất; kiểm soát chặt cho vay BĐS và kinh doanh CK; kiểm soát nợ xấu, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống ngân hàng…

Bảo Cầm

Gỡ thiệt cho người dân bị thu hồi đất

LTS: Tiếp nối diễn đàn nhìn lại thực tế quá trình thu hồi, đền bù, giải toả đất đai cho tới nay, tìm giải pháp để đảm bảo lợi ích cho người dân nhân đề xuất mới đây của đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch đối với trường hợp dự án chỉnh trang, xây dựng đô thị tại TP.HCM, Sài Gòn Tiếp Thị xin giới thiệu bài viết của GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng bộ Tài nguyên môi trường. 


TP.HCM có thuận lợi để làm…

Ông Trần Du Lịch đề xuất thành phố nên ứng một khoản tiền để di dời người dân, giải phóng mặt bằng, sau đó mời các nhà đầu tư đấu giá quyền sử dụng đất; Nhà nước trừ các chi phí, trừ tiền tạm ứng di dời, tái định cư và thu thuế trên tổng số tiền đấu giá, phần chênh lệch còn lại chia cho dân. Cơ sở pháp lý cho cách làm này đã có, Đà Nẵng đã thực hiện thành công và đặt câu hỏi “Tại sao đến nay ta chưa làm đại trà được?”.

Cho đến nay, cơ chế Nhà nước thu hồi đất và thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất vẫn là trọng tâm gây bức xúc nhất trong xây dựng và thực thi pháp luật ở nước ta.

Đề xuất của đại biểu Trần Du Lịch có thể thực hiện được ngay vì đã được quy định trong luật Đất đai 2003 và các nghị định hướng dẫn thi hành. Khoản 1 điều 39 của luật Đất đai quy định có hai cơ chế Nhà nước thu hồi đất: một là “Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch” và hai là “Nhà nước thu hồi đất theo dự án đầu tư”. Điều 41 (Việc thu hồi đất và quản lý quỹ đất đã thu hồi) của luật Đất đai, điều 130 (Trình tự thu hồi đất) và điều 61 (Các trường hợp đấu giá và không đấu giá quyền sử dụng đất) của nghị định số 181/2004/NĐ-CP quy định chi tiết hơn: (1) trong cơ chế Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch, tổ chức phát triển quỹ đất cấp tỉnh thực hiện quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng và quản lý, tổ chức việc đấu giá đối với đất đã thu hồi; (2) trong cơ chế Nhà nước thu hồi đất theo dự án đầu tư, UBND cấp huyện thực hiện quá trình bồi thường, giải phóng mặt bằng, UBND cấp tỉnh quyết định cho thuê hoặc giao đất đã thu hồi cho nhà đầu tư dự án đã được chỉ định.

Như vậy, tính cả cơ chế nhà đầu tư tự thương thảo với người đang sử dụng đất thì pháp luật nước ta có tới ba cơ chế để có đất cho dự án đầu tư. Phong phú đến như thế nhưng mới chỉ có Đà Nẵng lựa chọn cơ chế thu hồi đất theo quy hoạch (đại biểu Trần Du Lịch đề xuất cách này) để triển khai như một cách làm chủ đạo. Đà Nẵng đã thành công trong quy hoạch lại toàn bộ thành phố mà khiếu kiện của dân ít. Các địa phương khác không lựa chọn cơ chế này (vì ba lý do chủ yếu: (1) không có cơ chế để xuất trước tiền từ ngân sách ra để thực hiện di dời người dân, giải phóng mặt bằng; (2) giải phóng mặt bằng xong nhưng không có nhà đầu tư nào quan tâm tới đất đó nên lãng phí lớn; (3) bắt nhà đầu tư tham gia đấu giá đất là làm mất lợi thế ưu đãi đầu tư của địa phương) mà chọn cơ chế Nhà nước thu hồi đất theo dự án đầu tư. Theo cơ chế này, nhà đầu tư đã được chỉ định có trách nhiệm xuất trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, UBND cấp huyện chỉ còn việc mang quyết định hành chính của tỉnh, của mình đi ép dân thực hiện.

Nhiều lãnh đạo địa phương nói rằng khó có thể xác định được giá đất phù hợp thị trường. Hãy hiểu một cách giản dị rằng, giá trị tiền bồi thường, hỗ trợ về đất là phù hợp với thị trường nếu có thể dùng giá trị đó để nhận chuyển nhượng được một thửa đất có điều kiện tương tự tại cùng thời điểm.

 

Trong đối thoại giữa Chính phủ ta và nhóm các nước tài trợ năm 2010 về tham nhũng trong quản lý đất đai, các chuyên gia trong nước và quốc tế đã chỉ ra cơ chế Nhà nước thu hồi đất theo dự án đầu tư gắn với nguy cơ tham nhũng rất lớn trong tất cả các khâu của trình tự, thủ tục thực hiện.

Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch được thực hiện thành công ở Đà Nẵng trong khi nhiều địa phương khác không thực hiện được. Vì sao? Trước hết, Đà Nẵng khắc phục việc không có cơ chế xuất vốn trước từ ngân sách nhà nước bằng cách tạo tư tưởng đồng thuận trong lãnh đạo địa phương từ Đảng bộ thành phố, HĐND, UBND lấy nguồn từ kho bạc Nhà nước thành phố để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng, tiền thu được từ đấu giá đất sẽ hoàn trả lại kho bạc với một cơ chế tài chính minh bạch. Lý do thứ hai và thứ ba về khả năng nhà đầu tư không quan tâm tới đất đã thu hồi và lợi thế ưu đãi đầu tư thì được khắc phục bằng cách nâng cao chất lượng quy hoạch đô thị. Ai tới Đà Nẵng cũng phải thừa nhận quy hoạch Đà Nẵng hợp lý và đang là điểm thu hút đầu tư mạnh ở Trung bộ, mặc dù nói chung các nhà đầu tư phải tham gia đấu giá đất.

Vấn có tình trạng nhà đất, biệt thự bỏ hoang, gây lãng phí (ảnh minh hoạ). 

Theo các cán bộ lãnh đạo ở Đà Nẵng, để thực hiện cơ chế thu hồi đất theo quy hoạch, đừng dựa hẳn vào nguồn lực tài chính của chủ đầu tư để thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng. Nhà nước địa phương phải chủ động, phải “nắm đằng chuôi” đối với quỹ đất, cách làm này càng tạo thêm tính hấp dẫn cho môi trường đầu tư của địa phương.

Trung tâm của bức xúc chính là vấn đề xác định giá đất để tính bồi thường quá thiếu minh bạch. Luật Đất đai 2003 đã quy định giá đất do Nhà nước quy định phải “sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường” (điểm a khoản 1 điều 56). Trên thực tế giá đất có cao hơn so với mặt bằng cuối năm 2004, nhưng chưa chạm được vào mức giá thị trường. Có nơi giá đất của Nhà nước chỉ bằng 1/10 giá thị trường. Ví dụ, giá đất ở cao nhất của Nhà nước hiện nay là 81 triệu đồng/m2, nhưng giá đất thực tế cao nhất ở trung tâm Hà Nội là trên 810 triệu đồng/m2. Thấy vậy, nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27.1.2006 đã quy định mạnh hơn là “trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá này chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giá đất cụ thể cho phù hợp” (khoản 2 điều 4). Thế nhưng, quy định này cũng chỉ làm cho giá đất tính bồi thường cao hơn bảng giá đất do cấp tỉnh ban hành ít nhiều, không thể ngang bằng với giá thực tế.

Cho đến nay, vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về hành lang pháp lý cho quy trình xác định giá đất phù hợp thị trường. Nhiều nhà lãnh đạo địa phương nói rằng khó có thể xác định được giá đất phù hợp thị trường. Chúng ta hãy hiểu một cách giản dị rằng, giá trị tiền bồi thường, hỗ trợ về đất là phù hợp với thị trường, nếu có thể dùng giá trị đó để nhận chuyển nhượng được một thửa đất có điều kiện tương tự tại cùng thời điểm. Theo khảo sát thực tế ở nhiều nơi, có tới trên 95% ý kiến của người bị thu hồi đất cho rằng giá trị bồi thường, hỗ trợ không đủ để nhận chuyển nhượng được một thửa đất tương tự và trên 80% cho rằng thiếu rất nhiều. Xác định sòng phẳng, minh bạch về giá trị trong quá trình chuyển dịch đất đai từ người dân sang nhà đầu tư là cốt lõi của mọi bức xúc. Cơ chế chẳng qua là cách thức để giá trị này thể hiện được “nguyên hình” trên thực tế. TP.HCM là địa phương duy nhất trong cả nước đã đưa ra cách thức rất tiến bộ trong quá trình xác định giá đất phù hợp thị trường, bằng cơ chế sử dụng dịch vụ định giá trước khi UBND thành phố quyết định.

GS.TSKH ĐẶNG HÙNG VÕ 

(Theo SGTT.VN) 

Tiền sử dụng đất ở ngoài hạn mức tại TP.HCM: Lại muốn thu “sát giá thị trường”

(Thanh nien) Các cơ quan ban ngành TP.HCM vừa đề xuất thu tiền sử dụng đất (SDĐ) đối với phần đất ở ngoài hạn mức theo hướng sát giá thị trường thay vì áp dụng thống nhất hệ số điều chỉnh gấp 2 lần bảng giá đất như dự thảo vừa rồi.

 


Đề xuất mới này được đánh giá là không phù hợp với thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính và nếu ban hành sẽ gây thêm hàng loạt phiền toái cho quá trình hợp thực hóa nhà đất của người dân.

 

Hàng ngàn hồ sơ nhà đất tại TP.HCM tiếp tục bị ách tắc để chờ hướng dẫn thu tiền sử dụng đất sát giá thị trường - Ảnh: D.Đ.M

Khác với hướng dẫn của Bộ Tài chính

Từ tháng 6.2011, Bộ Tài chính đã có Thông tư 93 (về hướng dẫn thu tiền SDĐ) được xem là tháo gỡ một phần khó khăn cho việc xác định giá đất sát giá thị trường theo Nghị định 69/2009 và Nghị định 120/2011. Dù Thông tư 93 đã có hiệu lực cách đây 2 tháng (ngày 15.8.2011) song đến nay TP.HCM vẫn chưa ban hành được quy định hướng dẫn.

 
Việc yêu cầu thẩm định giá đất chẳng khác nào đẻ ra một loại giấy phép con, mà quyền quyết định mức thuế đất cao hay thấp lại phụ thuộc vào một đơn vị thẩm định tư nhân, tiêu cực là khó tránh khỏi
 

Ông Thân Thanh Vũ - Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Bất động sản VN

 

Sau một thời gian tranh cãi chuyện hệ số thu tiền SDĐ ngoài hạn mức cao hay thấp và thống nhất ở mức gấp 2 lần bảng giá đất, tại cuộc họp mới đây, nhiều ý kiến sở ngành lại cho rằng không nên áp dụng hệ số 2 lần cho toàn bộ diện tích đất vượt hạn mức. Mà cụ thể, trong phần diện tích đất ngoài hạn mức sẽ tách ra làm 2 phần, trong đó hệ số 2 lần chỉ áp dụng đối với phần đất ngoài hạn mức có diện tích tối đa là 50% hạn mức đất ở (chẳng hạn, quy định hạn mức đất ở tại Q.2 là 200m2 thì người dân sẽ đóng gấp đôi bảng giá đất đối với 100m2 diện tích đất ngoài hạn mức). Phần diện tích vượt hạn mức còn lại (nếu có) sẽ nộp theo giá thị trường. UBND quận, huyện được giao nhiệm vụ thuê đơn vị tư vấn thẩm định giá thị trường trên địa bàn và giá này sẽ ổn định trong vòng 6 tháng. Cách tính này được cho rằng sẽ tương đối sát với yêu cầu của Nghị định 69/2009.

Trong khi đó, Thông tư 93 của Bộ Tài chính chỉ yêu cầu thẩm định giá đối với các trường hợp đất làm dự án của các tổ chức kinh tế (tại TP.HCM, chỉ cần thẩm định giá đối với lô đất có giá trị trên 15 tỉ đồng). Riêng với trường hợp đất ở của hộ gia đình, cá nhân cần xác định giá đất thị trường để thu tiền SDĐ, từng tỉnh thành căn cứ vào tình hình cụ thể để quy định hệ số điều chỉnh so với bảng giá đất để áp dụng đối với diện tích vượt hạn mức. Hệ số điều chỉnh này được áp dụng đối với cả trường hợp cấp giấy chứng nhận lẫn trường hợp chuyển mục đích SDĐ (xác định chênh lệch giữa tiền SDĐ theo mục đích mới với tiền SDĐ theo mục đích cũ). Như vậy, thông tư của Bộ Tài chính đã giải quyết một phần vướng mắc về cách thu tiền SDĐ sát giá thị trường khi không yêu cầu thẩm định giá với các trường hợp đất ở của dân. Có thể thấy, đề xuất của TP.HCM đã làm phức tạp thêm tình hình khi yêu cầu thẩm định giá đối với hàng ngàn trường hợp người dân có đất ở vượt hạn mức.

Phức tạp và dễ tiêu cực

Ông Thân Thanh Vũ - Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Bất động sản VN - cho rằng, trong khi dư luận còn đang tranh cãi về khái niệm giá đất “sát giá thị trường”, thì việc TP.HCM đề xuất thu tiền SDĐ sát giá thị trường đối với một phần đất ở ngoài hạn mức của hàng ngàn hộ dân là một việc làm hết sức tốn kém và phức tạp. Nhất là yêu cầu phải bóc tách từng trường hợp đất ở ngoài hạn mức, xem phần nào phải đóng gấp đôi bảng giá đất và phần nào phải đóng sát giá thị trường sẽ rất nhiêu khê. Việc giao UBND quận, huyện cứ 6 tháng một lần phải thuê đơn vị tư vấn thẩm định giá thị trường trên địa bàn sẽ làm tăng khối lượng công việc đối với các cơ quan này, dẫn đến quá tải. "Phần nhiều kết quả thẩm định giá hiện nay đều mang tính chủ quan của đơn vị thẩm định, rất nhiều trường hợp cùng một mảnh đất nhưng mỗi đơn vị thẩm định nói một giá, như vậy các cơ quan nhà nước sẽ chọn giá nào, căn cứ vào đâu để chọn? Việc yêu cầu thẩm định giá đất chẳng khác nào đẻ ra một loại giấy phép con, mà quyền quyết định mức thuế đất cao hay thấp lại phụ thuộc vào một đơn vị thẩm định tư nhân, tiêu cực là khó tránh khỏi” - ông Vũ nói.

Đồng quan điểm, TS Lê Thẩm Dương - Trưởng khoa Quản trị kinh doanh (Đại học Ngân hàng TP.HCM) - cho rằng, chi phí, thời gian xây dựng bảng giá đất hằng năm rất lớn nhưng khi tính tiền SDĐ lại yêu cầu thẩm định giá đối với từng trường hợp, từng khu vực sẽ là một sự lãng phí lớn. Điều này sẽ tạo ra sự thiếu thống nhất và thiếu công bằng khi triển khai trên thực tế. Vả lại, định giá cho từng trường hợp cụ thể, từng doanh nghiệp, từng người dân thì không có bộ máy nào làm xuể. Theo TS Dương, chính quyền không nên kỳ vọng thu tiền SDĐ sát giá thị trường một cách tuyệt đối mà nên chấp nhận phương pháp sai số tương đối bằng cách quy định hệ số điều chỉnh áp dụng thống nhất như hướng dẫn của Bộ Tài chính.

 

Ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM: Không nên tận thu

Việc thu thuế đối với phần đất ở ngoài hạn mức của người dân cần phải cân nhắc trên cơ sở hợp lý và công bằng. Thứ nhất là quy định về hạn mức đất ở hiện nay quá thấp, được quy định từ chục năm trước đã không còn phù hợp với điều kiện phát triển của TP.HCM, nhất là ở khu vực ngoại thành. Thứ hai, với các trường hợp người dân đã mua bán, sang nhượng mảnh đất trước đó theo giá thị trường, nay phải đóng tiền SDĐ cũng theo giá thị trường thì chẳng khác nào bắt họ phải mua đất đến 2 lần. Chính sách thuế không nên tận thu mà cần tính tới các yếu tố an sinh xã hội, bởi nếu quy định mức thuế quá cao thì không khuyến khích người dân hợp thức hóa nhà đất, càng làm phức tạp thêm tình hình và nguy cơ thất thu thuế cũng cao.

 

Phương Thanh