CEFURDS

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – ĐÔ THỊ SÔNG NƯỚC

Thành phố Sài Gòn được xây dựng bên bờ sông Sài Gòn với cảng Bến Nghé tấp nập giao thương nội địa và với nước ngoài, vốn là một đô thị sông nước.


Hệ thống sông nước thiên nhiên của thành phố có sông Sài Gòn, sông Vàm Thuật, sông Nhà Bè, sông Soài Rạp, sông Chợ Đệm và những chi lưu như rạch Bến Nghé (quận 1), rạch Nhiêu Lộc – Thị Nghè, rạch Cầu Bông (quận 3), rạch Lò Gốm (Chợ Lớn), rạch Ong Lớn, rạch Ong Nhỏ, rạch Láng The, rạch Bầu Nông, rạch Tra, rạch Lăng, rạch Cầu Sơn, rạch Văn Thánh (quận Bình Thạnh), rạch Đĩa, rạch Nước Lên… Ngoài những đường nước như trên, thành phố còn có vùng đất ngập nước Thủ Thiêm ở phía Đông, vùng đất ngập mặn Cần Giờ ở phía Nam.

Mạng lưới sông nước của Thành phố Hồ Chí Minh phong phú không chỉ là do thiên nhiên tạo ra mà còn là thành phẩm lao động của nhiều thế hệ hướng đến sự tôn tạo tính chất sông nước của đô thị này.

1. Những dòng nước được khơi

Con kênh có quy mô đầu tiên tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là kênh Ruột Ngựa, được đào vào năm 1772 để tăng cường chức năng giao thông phục vụ việc buôn bán hàng nông phẩm, nhất là lúa gạo của Vùng đồng bằng sông Cửu Long với Sài Gòn. Con đường lúa gạo này cần đến được cảng Bến Nghé để tiếp cận với thị trường trong nước hay nước ngoài. Lúc bấy giờ, con đường thủy cho ghe thuyền từ đồng bằng sông Cửu Long đến Bến Nghé là theo sông Chợ Đệm qua đến rạch Cát, rồi từ rạch Cát đến rạch Lò Gốm, sau đó mới thông đến rạch Bến Nghé rồi ra sông Sài Gòn. Đoạn từ rạch Cát đến rạch Lò Gốm không được thông thương lắm, thường xuyên bị ứ đọng. Chúa Nguyễn cho đào kênh giao thông tại đoạn tắc nghẽn ấy. Đốc chiến Nguyễn Cửu Đà là người được giao nhiệm vụ này, đã cho binh lính khai kênh, đóng cừ, nắn thẳng dòng nước, tạo nên được một con kênh thẳng tắp, ghe thuyền có thể qua lại dễ dàng. Kênh được đặt tên là kênh Ruột Ngựa (Mã Trường) vì hình dáng của nó thẳng tắp (Trịnh Hoài Đức, tr.42-43). Việc buôn bán của Sài Gòn nhờ đó ngày càng sầm uất. 

Con kênh có quy mô đầu tiên tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là kênh Ruột Ngựa, được đào vào năm 1772 để tăng cường chức năng giao thông phục vụ việc buôn bán hàng nông phẩm, nhất là lúa gạo của Vùng đồng bằng sông Cửu Long với Sài Gòn. Con đường lúa gạo này cần đến được cảng Bến Nghé để tiếp cận với thị trường trong nước hay nước ngoài. Lúc bấy giờ, con đường thủy cho ghe thuyền từ đồng bằng sông Cửu Long đến Bến Nghé là theo sông Chợ Đệm qua đến rạch Cát, rồi từ rạch Cát đến rạch Lò Gốm, sau đó mới thông đến rạch Bến Nghé rồi ra sông Sài Gòn. Đoạn từ rạch Cát đến rạch Lò Gốm không được thông thương lắm, thường xuyên bị ứ đọng. Chúa Nguyễn cho đào kênh giao thông tại đoạn tắc nghẽn ấy. Đốc chiến Nguyễn Cửu Đàm là người được giao nhiệm vụ này, đã cho binh lính khai kênh, đóng cừ, nắn thẳng dòng nước, tạo nên được một con kênh thẳng tắp, ghe thuyền có thể qua lại dễ dàng. Kênh được đặt tên là kênh Ruột Ngựa (Mã Trường) vì hình dáng của nó thẳng tắp (Trịnh Hoài Đức, tr.42-43). Việc buôn bán của Sài Gòn nhờ đó ngày càng sầm uất.

Bản đồ sau đây được Trần Văn Học vẽ vào năm 1815, thể hiện hai khu đô thị Bến Nghé và Chợ Lớn, được bao quanh là Lũy Bán Bích ở phía Tây, rạch Thị Nghè phía Bắc, sông Sài Gòn phía Đông và rạch Bến Nghé chạy dọc ở phía Nam.  Ở Chợ Lớn là kênh Ruột Ngựa, rạch Lò Gốm, chưa có kênh Tàu Hũ:

Tuy kênh Ruột Ngựa đã được đào, nhưng qua đầu thế kỷ 19, việc buôn bán tại vùng Gia Định ngày càng phát triển, rạch Lò Gốm, dòng nước quanh co nối kênh Ruột Ngựa với rạch Bến Nghé không còn đủ sức cung ứng cho lượng ghe thuyền ngày càng đông. Cho nên, năm 1819, vua Gia Long ra lệnh khơi con kênh mới, nối thẳng kênh Ruột Ngựa với rạch Bến Nghé, thuyền bè không đi qua rạch Lò Gốm nữa. Công việc khơi kênh kéo dài đúng ba tháng thì hoàn thành. Con kênh mới được đặt tên là An Thông, tức là kênh Tàu Hũ. Khi John Whiteđến Đàng Trong (tháng 10 năm 1819) cũng là lúc kết thúc việc đào kênh. Ông cho biết, để đào kênh, người ta đã phải cắt rừng, cắt đầm, đã có 26.000 người được trưng dụng, luân phiên làm ngày đêm, 7.000 người chết vì lao lực và bệnh hoạn. Dọc hai bên bờ kênh được đắp thành hai con đường bộ, có hàng cây hoa sứ trồng dọc theo kênh (White, 1824, tr. 237). Con kênh mới này, cùng hai con đường bộ chạy dọc theo nó làm cho giao thông thủy bộ đều thuận lợi, đã giúp cho Chợ Lớn - Bến Nghé phát triển hơn trong việc buôn bán nông phẩm.


 

Sau đây là bản sơ đồ trinh sát Gia Định (1860) mà quân đội viễn chinh Pháp ghi được trước khi đánh đồn Chí Hòa rồi chiếm thành Gia Định, trong đó thể hiện kênh Tàu Hũ.

Sau khi chiếm được Sài Gòn (1861), người Pháp nghĩ ngay đến việc quy hoạch đất Sài Gòn – Chợ Lớn. Bản quy hoạch nổi tiếng Koffyn ra đời vào năm 1862. Theo bản quy hoạch này, ngoài đường bộ và các công trình hạ tầng, thành phố còn có một con kênh được đào vòng cung, nối rạch Thị Nghè ở đoạn gần Cầu Kiệu với rạch Lò Gốm để ra kênh Tàu Hũ. Con kênh này được gọi là Canal de Ceinture (kênh Vành Đai), còn gọi là kênh Bao Ngạn.

Năm 1865, quy hoạch Koffyn mới được thực hiện bởi Nghị định 3/10/1865 sau khi người Pháp chiếm được ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Trần Văn Giàu, 1987, tr. 230). Theo quy hoạch trên, ba mặt của thành phố đã được bao bọc bằng ba đường nước thiên nhiên là sông Sài Gòn, rạch Thị Nghè và rạch Bến Nghé, thì có thêm kênh Vành Đai, thành phố trở thành như một hòn đảo, được nước bao quanh bốn phía. Sách Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển cho biết có đến 40.000 nhân công được huy động để đào kênh này (Vương Hồng Sển, 1997, tr.135).

Sau đây là bản đồ thành phố Sài Gòn năm 1892 chứng tỏ con kênh Canal de Ceinture đã được thực hiện. Bản đồ này được lưu trên tường của Bưu điện Sài Gòn từ khi được thành lập cho đến hiện nay.

Để xây dựng trung tâm đô thị Sài Gòn, vào thập niên 1880, người Pháp cho lấp đi những con hào, con kênh nhỏ đã được đào dưới thời chúa Nguyễn trên địa bàn quận 1 hiện nay. Các hào, kênh này vốn là hệ thống phòng thủ của ngôi thành Bát Quái và là đường giao thông thủy từ thành ra rạch Bến Nghé. Các đường nước này mất đi chức năng trên từ khi thành Bát Quái bị san bằng vào năm 1836. Trên hệ thống đường nước ấy là những trục đường bộ quan trọng được xây dựng, là đại lộ Hàm Nghi, đại lộ Lê Lợi, đường đi bộ Nguyễn Huệ ngày nay…

Trong khi các kênh, hào không còn chức năng vận tải đã được lấp đi tại Sài Gòn, thì tại ngay tại trung tâm Chợ Lớn,con kênh Hãng Rượu (Canal de la Distillerie) còn gọi là kênh Bonnard (tức là kênh Hàng Bàng)  được đào vào năm 1891, trở thành đường thủy vận tải quan trọng từ rạch Lò Gốm vào trong lòng đô thị Chợ Lớn. Con kênh này, thật sự, đã được quy hoạch từ năm 1874 do nhà trắc địa V. Roger thiết kế Kênh Hãng Rượu nối thẳng con rạch Lò Gốm (đoạn chảy theo hướng Bắc Nam, gần kênh Ruột Ngựa) đến con rạch nhỏ nối rạch Lò Gốm và kênh Tàu Hũ, trong khu vực nội đô Chợ Lớn. Dọc hai bên kênh, bờ Bắc là Bến Hãng Rượu (Quai de la Distillerie) và bờ Nam là Bến Bonnard (Quai Bonnard). Tên Bến Hãng Rượu (Quai de la Distillerie) được đổi là Bến Nguyễn Văn Thành vào thời Việt Nam Cộng Hòa, nay là Bến Phan Văn Khỏe, còn Bến Bonnard được đổi là Bến Bãi Sậy vào thời Việt Nam Cộng Hòa và tên gọi ấy được giữ cho đến nay. 

Ngoài ra còn có con kênh Lò Gốm[1] (Canal des Poteries) ở phía Tây nam của Chợ Lớn, thể hiện rất rõ ở bản đồ 1897. Con kênh này nối thẳng tắp rạch Nước Lên đến ngã ba của rạch Lò Gốm – kênh Ruột Ngựa – kênh Tàu Hũ. Không biết con kênh này được đào vào năm nào, nhưng theo tác giả Vương Hồng Sển thì kênh được đào sau kênh An Thông (Vương Hồng Sển,1997, tr.144), và theo một tác giả người Pháp là Pierre Mille thì kênh được đào trước khi người Pháp đến (Mille, 1903, tr.436). Kênh Lò Gốm ra đời làm cho ngắn đi con đường thủy đi từ rạch Nước Lên đến kênh Tàu Hũ, thuyền bè không phải đi quanh co theo rạch Cát, đến kênh Ruột Ngựa rồi mới ra được kênh Tàu Hũ như trước đây nữa.

Vào đầu thế kỷ 20, trên toàn cảnh Sài Gòn – Chợ Lớn, các con kênh giao thông có quy mô lớn lần lượt được thực hiện. Ở khu vực phía Nam đô thị Sài Gòn, vào năm 1905 con kênh Tẽ Canal de Dérivation) được đào để giảm áp lực vận tải cho rạch Bến Nghé đoạn từ sông Sài Gòn đến cửa rạch Ong Lớn (khu vực cầu Chữ Y hiện nay). Đoạn rạch này luôn luôn có những tàu thuyền lớn, chuyên chở hàng hóa từ rạch Lò Gốm đến Cảng Sài Gòn và ngược lại, bị tắc nghẽn giao thông, nhất là khi triều thấp. Vì thế, con kênh Tẽ được đào. Con kênh có tổng chiều dài khoảng 4.360m. Từ đó, luồng tàu thuyền khi đến vàm Lò Gốm có thể tẽ thành hai nhánh để đổ ra sông Sài Gòn. Kênh Tẽ trở thành tuyến đường thủy quan trọng trong giao thương giữa Sài Gòn với các nơi khác, ngoài các tỉnh miền Tây còn có các tỉnh ở miền Trung, Bắc Việt Nam.

Bảy năm sau đó, kênh Đôi (Canal de Doublement) được đào. Dù kênh Tẽ giải quyết được hiện tượng ùn tắc thuyền bè ở cửa rạch Bến Nghé, nhưng tàu thuyền vẫn còn nghẽn ở đoạn kênh Tàu Hũ chảy qua Chợ Lớn đến kênh Tẽ. Vì thế kênh Đôi được đào để chia sẻ áp lực tắc nghẽn của kênh Tàu Hũ. Kênh được bắt đầu khơi vào năm 1912 và đến năm 1919 thì hoàn thành, đúng 100 năm sau kênh Tàu Hũ. Kênh Đôi chạy song song với kênh Tàu Hũ, nối Rạch Cát với rạch Bến Nghé (ở đoạn gần cửa rạch Ong Lớn). Con kênh mới này tránh được trung tâm Chợ Lớn, nối với kênh Tẽ để từ đó đưa đường giao thông đến được phía Nam của cảng Sài Gòn. Một số kênh ngang nối kênh này và kênh Tàu Hũ cũng được đào, ngoài các con rạch tự nhiên đã có. Con kênh này và mạng lưới các con kênh ngang, góp phần quan trọng vào hiệu quả của hệ thống giao thông, vận tải đường thủy của Chợ Lớn vào thời ấy.

Có thể cho rằng, sau kênh Đôi, thì không có một con kênh vận tải nào được đào trên địa bàn thành phố nữa. Những con kênh như Lê Minh Xuân, Phạm Văn Hai được đào sau này là để tưới tiêu cho đồng ruộng chứ không có chức năng giao thông, vận tải.

2. Những dòng nước bị lấp đi

Vào khoảng những năm 1940, chức năng giao thông được thay thế bởi kênh Hãng Rượu, đoạn đường nước của rạch Lò Gốm từ kênh Vành Đai đến kênh Tàu Hũ đã bị lấp đi, trở thành 1 con đường bộ với tiểu đảo ở giữa, đoạn rạch bị lấp trở thành đại lộ mang tên Boulevard Gaudot, bây giờ là Hải Thượng Lãn Ông. Bắt đầu từ đây, rạch Lò Gốmkhông còn thông với rạch Bến Nghé ở vàm Bến Nghé, chỉ thông với kênh Tàu Hũ ở chỗ giáp với kênh Ruột Ngựa.

Còn con kênh Vành Đai tồn tại cho đến khoảng giữa thế kỷ XX thì bắt đầu bị lấp dần qua hai đợt đô thị hóa cưỡng bức dưới thời kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước (1945-1975). Đây là giai đoạn chiến tranh. Các cuộc chiến và bom đạn diễn ra chủ yếu ở vùng thôn quê nên đã thúc đẩy cư dân vùng nông thôn đến thành phố để lánh nạn. Dân số thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn đã tăng nhanh chóng. Dân nhập cư ở mọi nơi, ở những vùng đất trũng hoặc ven nghĩa địa, ven sông, ven rạch. Nhiều đoạn kênh bị lấp đi, trong đó có kênh Vành Đai. Con kênh này dần dần bị lấn chiếm và hoàn toàn biến mất, thay vào đó là những con đường bộ dài thay cho con kênh cũ. Sau đây là một mảnh cắt từ Bản đồ Đô thành Sài Gòn 1958 cho thấy kênh Vành Đai đã bị lấp mất một số đoạn vào năm 1958. Có thể so sánh vị trí của kênh Vành Đai ngày nay tương ứng với đường Nguyễn Thị Nhỏ (quận 5, quận 11), đường Lò Siêu và đường Bắc Hải.

Kênh Hãng Rượu (kênh Hàng Bàng) tồn tại lâu hơn các con kênh trên. Ở bản đồ Đô thành Sài Gòn 1958 được trình bày trong trường hợp kênh Vành Đai bị lấp, con kênh Hãng Rượu này vẫn còn là một dòng nước xanh chảy trong Chợ Lớn nhưng đến cuối thế 20 thì không còn nữa. Dòng nước đã được cho vào cống hộp, tạo mặt bằng đô thị. 1.000 tỷ đồng đã được chi ra để hoàn thành công việc này (Quốc Hùng, 2015). Vào năm 2015, kênh Hãng Rượu, sau 16 năm nằm o ép trong ống cống hộp, được bắt đầu đào trở lại để giải quyết nạn ngập nước trong khu vực và cũng một số kinh phí rất lớn được đưa ra để trả lại sự tự do cho dòng nước.

Sự hiện diện của các dòng nước tự nhiên, sự ra đời của các dòng nước nhân tạo cho thấy từ khi hình thành, thành phố này đã mang tính sông nước rất cao và tính chất này đã được nhiều thế hệ, người tại chỗ cũng như người tứ xứ cùng góp công xây dựng, đem đến cho thành phố một hệ thống kênh rạch độc đáo quý giá. Chúng ta đang sống và làm việc trong hệ thống ấy. Vì thế, trong công cuộc chỉnh trang thành phố, hệ thống ấy cần được chú trọng và phát triển. Bài viết đưa ra một số ý tưởng khả thi sau

3. Một số ý tưởng cho công cuộc chỉnh trang thành phố 

3.1. Phục hồi và tăng cường tính sông nước của thành phố 

Nước làvốn quý của nhân loại và của đô thị. Thế giới tôn vinh nước bằng việc lấy ngày 22 tháng 3 hàng năm làm Ngày Nước Thế Giới và đã có Hội đồng Nước Thế giới (World Water Council) hành động vì bảo tồn, phát triển, quy hoạch nước.

Nước mặt của Thành phố Hồ Chí Minh được hệ thống kênh, rạch chuyên chở len lỏi đến khắp nơi trên địa bàn thành phố. Chúng ta đã hoàn thành việc trả lại dòng nước cho rạch Thị Nghè, rạch Bến Nghé và cũng đang làm hồi sinh con kênh Hàng Bàng, nhưng vẫn còn đó những con rạch, con kênh đang bị chết dần vì rác thải, vì ô nhiễm như rạch Cầu Sơn, rạch Lăng, rạch Long Vân Tự, Rạch Bàu Trâu, rạch Phan Văn Hân, kênh Nước Đen… Đã có nhiều chủ trương, chiến dịch, chương trình bảo vệ dòng nước của Thành phố Hồ Chí Minh, bài viết này cũng góp phần qua việc nhấn mạnh đến tài sản sông nước mà nhiều thế hệ lao động trước đây đã để lại cho chúng ta. Các thành phố văn minh trên thế giới đều tận dụng lợi thế của dòng nước, để tạo cảnh quan độc đáo cho mình. Trường hợp con suối Cheonggyecheon ở Seoul, vốn đã từng bị lấp từ năm 1968 trong quá trình xây dựng đô thị, đã được đào lên lại vào năm 2005, không những trở thành điểm đến du lịch thú vị của Seoul, mà còn đem đến sự tươi mát cho thành phố; hoặc Paris hào nhoáng với con sông Seine; Amsterdam độc đáo với hệ thống kênh đào… Thành phố Hồ Chí Minh không kém các thành phố kia trên bình diện sông nước, chỉ có điều là chúng ta chưa đối xử đúng với giá trị của nó. Nếu các dòng nước ấy được tái tạo lại màu xanh, với những hàng cây, bãi cỏ, công viên ven bờ thì chúng ta có thể nghĩ đến viễn cảnh về Thành phố Hồ Chí Minh - một đô thị xanh.

Trả lại giá trị cho các con kênh còn là biện pháp chống ngập hữu hiệu. Và, đó là cảm nhận sâu sắc của người dân thành phố: “Nếu phục hồi các hệ thống thoát nước, trả lại dòng chảy cho các con kênh và đừng quá tham lam phát triển đô thị trái với qui luật tự nhiên mà lấp kênh, lấp các vùng nước sinh quyển chứa nước thì thành phố sẽ không bị ngập để phải bỏ hàng núi tiền ra khắc phục.

Một người dân nói: “ Xây dựng hệ thống thoát nước phải phù hợp, phải có tầm nhìn dài hạn cho cả trăm năm…. Bên cạnh đó, muốn không ngập thì phải trả lại nguyên vẹn sông hồ, kênh rạch".

3.2. Phục hồi và tăng cường chức năng vận tải của các dòng nước 

   Trong quá trình xây dựng đô thị, nhất là trong lĩnh vực giao thông, thành phố đã phải nhiều lần điều chỉnh hệ thống đường bộ của thành phố. Nhiều đường đang sử dụng được nới rộng, nhiều đường mới được xẻ ra, làm tiêu tốn không những ngân sách của thành phố qua việc giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa, mà cũng làm tiêu tốn diện tích đất vàng đô thị trong điều kiện đất hẹp người đông. Thành phố có hơn 3.380 con đường (kể cả đường có tên và chưa tên) và đến năm 2025 sẽ có thêm chừng 810 con đường. Số lượng khổng lồ của đường bộ thành phố, nói lên phần nào việc chúng ta đã và đang rất chú trọng đến đường bộ trong việc giải quyết giao thông đô thị. Nhưng bên cạnh hệ thống đường bộ khổng lồ ấy, chúng ta vẫn còn có cả một hệ thống đường nước gồm sông, kênh, rạch cũng khổng lồ không kém, mà chức năng vận tải, chuyên chở của hệ thống này dường như chưa có chiến lược sử dụng một cách hệ thống, toàn diện. 

Nếu được chú trọng, được nạo vét, được tôn tạo, được thiết lập bến sông, bến thuyền, điều chỉnh độ tĩnh không chưa hợp lý của một số cây cầu, và nhất là có quy hoạch đồng bộ, khoa học thì những con đường thủy ấy vẫn còn đầy ắp chức năng chuyên chở, cả hành khách lẫn hàng hóa, sẽ san sẻ cùng đường bộ áp lực giao thông của thành phố. Hiện nay thành phố đã có hướng thiết lập 2 tuyến buýt đường sông nội đô nối quận 1 và quận 8 sẽ bắt đầu đi vào hoạt động vào cuối năm nay (2016). Tiềm năng thiết lập các tuyến buýt sông vẫn còn rất nhiều vì hầu hết các con kênh được đào đều có đường bộ chạy song song, có thể kết hợp với buýt đường bộ.

Việc mở mang giao thông đường thủy còn mang đến nhiều lợi ích khác cho thành phố như hỗ trợ tích cực cho các sản phẩm du lịch đường sông đang bắt đầu hoạt động, hỗ trợ cho việc phòng cháy chữa cháy đô thị và nhất là đem con người thành phố đến gần với với sông nước, với thiên nhiên hơn.

Tôn Nữ Quỳnh Trân 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Bản đồ, sơ đồ

  1. 1795, Plan de la ville de Saigon, LeBrun (Bản đồ thành phố Sài Gòn), nguồn: Département des Cartes et Plans (Phòng Bản đồ), Thư viện Quốc gia, Paris, Pháp, ký hiệu 80c 99743.
  2. 1815, Gia Định Thành, Trần Văn Học, Nguồn: Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises (BSEI), tome XXXVII, No 4, 1962, tr.412.
  3. 1860, Saigon 1860 - Lever de reconnaissance - Sơ đồ trinh sát Sài Gòn 1860, Nguồn: Archives d’Outre Mer (Lưu trữ hải ngoại), Aix en Provence, Pháp.
  4. 1862, Projet de Ville de 500.000 âmes à Saigon (Dự án thành phố 500.000 người tại Sài Gòn), Nguồn: Archives d’Outre Mer (Lưu trữ hải ngoại), Aix en Provence, Pháp.
  5. 1874, Plan général de la Ville de Cholon (Bản đồ tổng quát thành phố Chợ Lớn), Nguồn: Thư viện Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển, sốhiệu Cef-M21.
  6. 1897, Saigon, Cholon et leurs environs (Sài Gòn, Chợ Lớn và các vùng phụ cận) do Service du Cadastre et de la Topographie (Sở Địa chính và Địa hình Nam Kỳ) lập và được Nhà xuất bản Andriveau - Goujon – H. Barrère phát hành – Paris, 1897.
  7. 1923, Plan de Saigon – Cholon 1923 (Bản đồ Sài Gòn Chợ Lớn, 1923), Bibliothèque nationale (Thư viện quốc gia), Paris, Pháp.
  8. 1945, Saigon – Cholon, (bản đồ Nhật), Thư viện Trung tâm Nghiên cứu Đô thị và Phát triển, ký hiệu Cef-M86A.
  9. 1958, Đô thành Sài Gòn 1958, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2.
  10. Doling, Tim, 09/03/2015, “Icons of Old Saigon – The Canal Bonard, 1893” (Góc Sài Gòn xưa – Kênh Bonard, 1893) từ http://www.historicvietnam.com/canal-bonard.
  11. Quốc Hùng (2015), “Kênh Hàng Bàng lấp rồi đào: Tốn kém vẫn phải làm”, 11/11/2015, từ http://www.sggp.org.vn/moitruongdothi/2015/11/402335/.
  12. Mille, Pierre (1903), “Projets de canaux de navigation et d’irrigation en Indo-Chine”, trong Annales de Géographie, năm 1903, Vol 12, số 66, tr.436.
  13. Tôn Nữ Quỳnh Trân (2016), “Les prémisses de l’urbanisation de Saigon - Ho Chi Minh Ville - Empreintes du patrimoine culturel français sur l’évolution urbaine locale (Điểm xuất phát đô thị hóa Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh – Dấu ấn của di sản văn hóa Pháp trên tiến trình phát triển đô thị tại chỗ), trong tạp chí Faire-savoirs, Patrimoines en devenir, n° 12 - décembre 2015, tr.59-68.
  14. Trịnh Hoài Đức (1972), Gia Định thành thông chí, bản dịch, tập thượng, Sài Gòn.
  15. Vương Hồng Sển (199, Sài Gòn năm xưa, Nxb.Hồ Chí Minh.
  16. White, John (1824), A voyage to Cochin China, Longman, Hurst, REE, Ormes, Brown, and Green, London. 

 

 

 

Phát triển công trình xanh: dễ & khó

Đô thị sinh thái chính là mục tiêu phát triển lâu dài của thế giới. Việt Nam cần nhanh chóng lồng ghép, thống nhất các chương trình tiết kiệm năng lượng, công trình xanh, quy hoạch đô thị, chiến lược phát triển… để đạt được các tiêu chí thành phố xanh, nâng tầm lên tới mức sinh thái nhằm hoàn thiện các yếu tố bền vững cho phát triển kinh tế, giữ gìn tài nguyên, môi trường cho các thế hệ tương lai. Mặc dù đã có công cụ đánh giá nhưng thời điểm phát triển mạnh của những công trình xanh còn chưa xuất hiện. Nguyên nhân nằm ở các rào cản về kỹ thuật, thiết bị, giá thành và nhận thức. Một số nghiên cứu tính toán khí hậu với công trình cho thấy, nếu không có hệ thống công cụ riêng phù hợp với Việt Nam thì có thể sẽ xảy ra tình trạng đầu tư lãng phí vào các thành tố đóng vai trò thứ yếu trong tiết kiệm năng lượng công trình.  



Trường học xanh - Tp Seoul, Hàn Quốc 


PHÂN BIỆT CÁC KHÁI NIỆM ĐỂ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN 

Hiện nay tại Việt Nam, các khái niệm kiến trúc xanh, công trình xanh, xây dựng xanh, kiến trúc bền vững, kiến trúc sinh thái… đang là những thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, tuy vậy vẫn tồn tại nhiều cách hiểu và quan điểm riêng. Trong thời điểm hiện tại, để có hướng phát triển đúng hướng, cần phân biệt rõ và xác định ý nghĩa đầy đủ với cả 3 khái niệm: Green Building - Eco - Sustainable (công trình xanh - sinh thái - bền vững). 

Về bản chất, các cách gọi trên đều có xu hướng nhắm tới một điều gì đó mang tính hợp lý, tiết kiệm, tạo nên sự bền vững và lợi ích lâu dài. Vì vậy khái niệm bền vững có lẽ là cái gốc chung cho tất cả những khái niệm trên. Định nghĩa về phát triển bền vững được đưa ra vào năm 1987, được Ủy ban Liên hiệp quốc về môi trường và phát triển thế giới định nghĩa “Phát triển bền vững” là quá trình thay đổi mà tại đó sự khai thác tài nguyên, phương hướng đầu tư, định hướng phát triển kỹ thuật và sự thay đổi thể chế đều hài hòa và làm nâng tầm cả hiện tại lẫn tiềm năng tương lai để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của con người.

Khái niệm thiết kế đô thị bền vững (sustainable urban design) là một phần của mục tiêu toàn cầu về phát triển bền vững nêu trên. Cũng từ đây, khái niệm phát triển bền vững bắt đầu phổ biến và phát sinh thêm các tên gọi khác, đặc biệt là các yếu tố nằm trong đô thị, như công viên, các tòa nhà, xe ô tô, thực phẩm… Tất nhiên trong đô thị, các công trình xây dựng chiếm một phần đặc biệt quan trọng. Cùng với thành phố, đây là thành phần được mang nhiều tên gọi mới nhất theo hướng phát triển bền vững.

Như vậy, về bản chất chung đều đề cập tới vấn đề bền vững, tất nhiên người không phải chuyên ngành có thể hiểu theo nghĩa bền chắc, khó bị phá hủy. Cũng như vậy, với kiến trúc xanh, có thể bị hiểu nhầm thành công trình hay đô thị có nhiều màu xanh, nhiều cây xanh, thậm chí là sơn màu xanh. Khái niệm sinh thái dường như là khó hiểu nhất và có lẽ hơi khác một chút so với các khái niệm bền vững hay xanh. Công trình sinh thái (Eco Building) thường được nhắc tới khi nó xây dựng từ những vật liệu có nguồn gốc thiên nhiên và ít trải qua các công đoạn thay đổi thành phần hóa học. Eco còn mang nghĩa thân thiện môi trường nên nó thường được gắn thêm các yếu tố sử dụng năng lượng có nguồn gốc tự nhiên. Đây là công trình hoàn toàn không gây hại gì tới môi trường một cách rất toàn diện, từ xây dựng tới vận hành. Về bản chất cũng không khác so với công trình xanh, thậm chí đây chính là cấp độ cao nhất của công trình xanh. 

Đối với khái niệm đô thị sinh thái, đô thị xanh, đô thị bền vững còn cần có thêm rất nhiều yếu tố mang tính xã hội, cộng đồng, đi kèm với mạng lưới xả thải, cung ứng tổng thể. Thậm chí theo tiêu chí mới của châu Âu còn phải đảm bảo tính bền vững cho các khu vực cung cấp tài nguyên phụ cận và cần tìm cách giảm thiểu diện tích đáp ứng tài nguyên cho đô thị. Tất nhiên trong đô thị xanh (sinh thái) không thể thiếu các công trình thân thiện môi trường, công trình sinh thái, công trình xanh theo một tỷ lệ nhất định. Tỷ lệ này luôn được điều chỉnh tăng dần bằng các biện pháp từ bắt buộc tới khuyến khích thực hiện. Kết nối, xen kẽ với hệ thống công trình là một mạng lưới liên tục các yếu tố sống, từ thảm thực vật tới các loại vi sinh vật, động vật… Các yếu tố này tạo nên một quần thể có khả năng tự duy trì và phát triển, chúng cộng sinh với con người và tạo ra những tác động qua lại với cuộc sống con người.

Như vậy có thể nói mục tiêu đô thị xanh và cấp cao nhất của nó là đô thị sinh thái chính là mục tiêu phát triển lâu dài của thế giới. Việt Nam cần nhanh chóng lồng ghép, thống nhất các chương trình tiết kiệm năng lượng, công trình xanh, quy hoạch đô thị, chiến lược phát triển… để trước mắt đạt được các tiêu chí thành phố xanh, dần dần nâng tầm xanh lên tới mức sinh thái nhằm hoàn thiện toàn diện các yếu tố bền vững cho phát triển kinh tế, giữ gìn tài nguyên, môi trường cho các thế hệ tương lai.


PHÁT TRIỂN CÔNG TRÌNH XANH TRÊN THẾ GIỚI 

Phát triển công trình xanh và kiến trúc xanh thực ra là 2 vấn đề khác nhau. Kiến trúc xanh là phạm trù rộng hơn rất nhiều so với công trình xanh. Trước hết hãy nói về vấn đề nhỏ hơn là công trình xanh. Công trình xanh ở Việt Nam thực ra mới phát triển ở dạng khái niệm. Có một số dự án đang manh nha lấy chứng chỉ công trình xanh theo Lotus (phần lớn), một số rất ít còn lại lấy chứng chỉ công trình LEED. Tuy nhiên việc lấy chứng chỉ, nhất là Lotus, đôi khi mang tính hình thức, đối phó chứ chưa thực sự được quan tâm phát triển xanh ngay từ bước thiết kế. Chủ đầu tư vẫn chỉ tập trung vào việc giảm tối đa giá thành xây lắp, đôi khi làm giảm chất lượng thiết kế theo cách không đáng có… Các công trình được trao danh hiệu xanh khác thường là định tính, không có con số đo đạc cụ thể, cách làm này không khả thi khi áp dụng với những công trình hiện đại, có nhiều thiết bị và công nghệ. 

Phát triển công trình xanh về cơ bản là vấn đề tiết kiệm tài nguyên, tạo môi trường sống tốt cho con người. Hiện nay xu hướng trên thế giới đều tập trung vào tiết kiệm năng lượng (cả vận hành công trình và sản xuất VLXD) vì nhờ đó mà có thể cắt giảm lượng lớn khí thải CO2 trong thời gian dài vận hành công trình. Tuy nhiên năng lượng là một khái niệm khó nắm bắt, cũng không có hình hài như tiết kiệm nước. Vì vậy, thực hành tiết kiệm có nhiều khó khăn khi triển khai thực tế, không riêng gì tại Việt Nam. 


Hệ thống pin năng lượng mặt trời và cây xanh trên mái công trình 

Các nước thuộc hệ thống Anh Mỹ có nền khoa học phát triển mạnh, có nền tảng vật lý công trình và thiết bị vững chắc, do đó họ phát triển các công cụ tính toán năng lượng công trình dưới sự hỗ trợ từ chính sách, hoặc các cơ quan nhà nước tự phát triển như Bộ Năng lượng Mỹ. Việc phát triển công trình xanh từ đó phát triển nhanh, có sự cạnh tranh mạnh mẽ giữa các đơn vị tư vấn thiết kế nhằm lấy chứng chỉ công trình xanh. Hệ thống châu Âu tuy đi sau về mặt công nghệ thiết kế, nhưng không vì thế chậm chân. Các nước châu Âu cũng có nền tảng khoa học vững chắc. Cách làm của họ chủ yếu dựa vào các chính sách nhà nước, các điều luật xây dựng bắt buộc, khuyến khích đầu tư các giải pháp. Các chính sách và các giải pháp kỹ thuật được nhà nước đầu tư nghiên cứu bởi các công ty đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển bền vững… Nhờ vậy mà chỉ trong khoảng 10 năm, phần lớn các chính sách và chiến lược đã trở thành hiện thực. Thậm chí việc thực hành đồng bộ, có tính kế thừa kinh nghiệm của Mỹ đã làm cho các chương trình phát triển xanh của châu Âu tiến xa hơn một bước, thực sự phù hợp với lịch sử, văn hóa, kinh tế của khu vực. Điểm vượt trội trong chương trình xanh châu Âu là đã đưa được tính nhân văn vào cuộc sống cộng đồng ngay tại các khu đô thị có mật độ cao và cực cao. Đây là điểm quan trọng mà Việt Nam nên học hỏi. 

Để làm được như vậy, chương trình bền vững của châu Âu không chỉ tập trung vào khái niệm công trình xanh. Họ đặt vấn đề trực tiếp vào phát triển các khu đô thị bền vững, hay là các thành phố xanh, thành phố sinh thái. Coi đô thị như một cơ thể sống, có nhịp sống riêng và nhiệm vụ là cân bằng giữa “ăn” và “thải” của cơ thể sống này. Đây là khái niệm mới và nếu ứng dụng tại Việt Nam sẽ tạo thành bước chuyển biến lớn trong chất lượng quy hoạch đô thị. 

Tất nhiên các thành phố xanh sẽ bao gồm các tế bào nhỏ là các công trình xanh, xung quanh các công trình xanh là mạng lưới cây xanh mặt nước đan xen trong đô thị (green and blue network). Châu Âu được gọi là lục địa già, số lượng công trình cũ rất lớn nên việc cải tạo hiệu quả sử dụng năng lượng cho công trình cũ còn quan trọng hơn nhiều so với xây dựng mới công trình xanh. Việc này cần sự hỗ trợ đặc biệt của chính sách theo một cách hết sức cụ thể. Ví dụ từ năm 2008 Paris hỗ trợ 500 - 1500 euro cho các gia đình đơn lẻ để cải tạo sửa chữa nhà. Các giải pháp kỹ thuật và đo đạc được tư vấn miễn phí. Các thiết bị sử dụng nước nóng mặt trời, tuabin gió đều được trợ giá từ đầu những năm 2000...

Tại châu Âu, giao thông công cộng và giao thông liên thành phố được đặc biệt quan tâm. Việc này giúp cư dân thoát khỏi sự phụ thuộc vào phương tiện cá nhân. Điều này còn đem lại văn hóa đi bộ và văn hóa xe đạp cho cư dân châu Âu. Giá trị của nó không chỉ nằm ở chỗ giảm phát thải mà quan trọng hơn là nâng cao thể chất cho cư dân đô thị. Cũng từ đó mà việc tạo ra các khoảng sân, vườn, quảng trường công cộng, đường dạo xen kẽ được quan tâm nhằm tạo ra sự giao tiếp cộng đồng, gắn bó về mặt xã hội và phát triển văn hóa. Đây là những điểm rất đáng kế thừa khi phát triển kiến trúc xanh tại Việt Nam. 


XÂY DỰNG HỆ THỐNG TIÊU CHUẨN CÔNG TRÌNH XANH Ở VIỆT NAM 

Hiện nay Việt Nam có bộ quy chuẩn tiết kiệm năng lượng 09:2005, là quy chuẩn hiện hành duy nhất về tiết kiệm năng lượng công trình. Tuy vậy việc thực thi quy chuẩn này còn rất hạn chế, thậm chí không được biết tới trong giới thiết kế, từ kiến trúc sư cho tới kỹ sư. Đây là điểm hết sức đáng tiếc. Điều này bắt nguồn từ sự phức tạp của quy chuẩn cũng như sự lỏng lẻo trong quản lý đầu tư xây dựng. Sau những nỗ lực của Bộ Xây dựng và vụ Khoa học Công nghệ - Bộ Xây dựng, trong năm 2013, Bộ Xây dựng dự kiến ban hành quy chuẩn sửa đổi, dễ áp dụng hơn và có chế tài nhằm đưa quy chuẩn mới trở thành một phần không thể thiếu khi thiết kế các công trình. Đây là một bước đi hết sức quan trọng và cần thiết, thể hiện quyết tâm của Bộ Xây dựng trong nâng cao chất lượng các công trình xây dựng trong thời gian tới. 

Ngoài quy chuẩn nhà nước ra, một nỗ lực vô cùng quý báu của hội đồng công trình xanh quốc tế dành cho Việt Nam là hệ thống đánh giá công trình xanh Lotus do VGBC phát triển.

Phía các chuyên gia của Việt Nam cũng có những nỗ lực nhất định như thành lập Hội kiến trúc xanh Việt Nam, Hội xây dựng xanh Việt Nam. Tuy nhiên những tên gọi này mới tồn tại trên giấy tờ, chưa có hoạt động đáng kể để có thể tạo tiếng vang trong xã hội. Một phần do nền tảng khoa học cơ bản về công trình và thiết bị kỹ thuật tại Việt Nam hiện nay đang tụt hậu khá xa so với thế giới. Sự hỗ trợ của các chính sách nhà nước còn thiếu và yếu cũng là nguyên nhân cản trở phát triển kiến trúc xanh. 

Hiện tại, VGBC có ý định chuyển giao hệ thống Lotus cho phía Việt Nam theo lộ trình, từ đó có thể thấy một xu hướng hợp nhất trong tương lai xa cho tất cả các tên gọi công trình xanh đang phân nhánh hiện nay.

Mặc dù đã có công cụ đánh giá công trình xanh nhưng thời điểm phát triển mạnh của những công trình này còn chưa xuất hiện. Nguyên nhân của vấn đề nằm ở các rào cản về kỹ thuật, thiết bị, giá thành và nhận thức. Công trình xanh phát triển mạnh chủ yếu tại các nước phát triển, nơi có nền khoa học kỹ thuật phát triển. Việc phát triển công trình xanh tại Việt Nam cũng không thể thiếu yếu tố này. Đáng tiếc là ngành khoa học nhiệt công trình tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, không bắt kịp với xu hướng của thế giới. Đây là điểm mà lãnh đạo các nước châu Âu hiểu rất rõ. Tại Hà Lan, thậm chí còn có khẩu hiệu: Khoa học công trình càng chính xác thì tính bền vững càng cao. Mối liên hệ giữa 2 vấn đề này tại Việt Nam còn chưa được đánh giá đúng mức. Đó là lý do tại sao việc tăng cường hiểu biết, nhận thức về công trình xanh được thực hiện rất nhiều trong thời gian qua tại Việt Nam, nhưng công trình xanh thực sự lại xuất hiện rất ít. Khoa học nhiệt công trình của Việt Nam cũng đang tính toán bằng phương pháp cũ, chứa nhiều sai số đã không còn phù hợp với nhu cầu mới. Đây là vấn đề có tính gốc rễ và cần được giải quyết càng sớm càng tốt. 

Hiện tại, một số ít đơn vị đầu tư xây dựng (như Ngân hàng Phát triển đầu tư BIDV, Tòa nhà One - Liên Hiệp Quốc) chọn hệ thống LEED của Mỹ làm công cụ đánh giá cho công trình trụ sở BIDV. Đây là việc làm và nỗ lực có tính tiên phong nhằm phổ biến công trình xanh tại Việt Nam và quan trọng hơn là nhằm nâng cao thương hiệu đi kèm với đảm bảo giảm thiểu chi phí vận hành công trình. Tuy nhiên LEED là hệ thống dành cho nước Mỹ, nơi có khí hậu và điều kiện đầu tư hoàn toàn khác so với Việt Nam. Một số nghiên cứu tính toán khí hậu với công trình cho thấy, nếu không có hệ thống công cụ riêng phù hợp với Việt Nam, có thể sẽ xảy ra tình trạng đầu tư lãng phí vào các thành tố đóng vai trò thứ yếu trong tiết kiệm năng lượng công trình. Ví dụ như đầu tư giảm hệ số dẫn nhiệt tường tới mức nhỏ hơn 1.8 W/m2.K. Việc này rất hiệu quả tại các nước ôn đới, nhưng ở Việt Nam lại làm tăng đầu tư và hiệu quả nhỏ tới mức thời gian hoàn vốn có thể kéo dài tới… 100 năm. Do đó, khoa học về tính bền vững môi trường, xã hội của công trình đóng vai trò rất lớn cả về kỹ thuật lẫn kinh tế. Đáng tiếc là nền tảng này đang bị quên lãng, nhất là trong giai đoạn bong bóng bất động sản vừa qua. 

Như vậy có thể thấy rằng việc đào tạo kỹ sư, sự quan tâm tới khoa học luôn luôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Khi các vấn đề bất cập nảy sinh, sự thua thiệt trong đầu tư, trong vận hành công trình xuất hiện bằng các số liệu năng lượng, tài chính cụ thể thì cũng là lúc cần phải nâng tầm của đội ngũ kỹ sư, kiến trúc sư thiết kế. Và cho dù có công cụ đánh giá nào đi chăng nữa thì công cụ quan trọng nhất để thực hiện kiến trúc xanh, thực hiện các thành phố xanh chính là đội ngũ kỹ sư và kiến trúc sư được đào tạo đầy đủ, được làm nghề một cách đúng nghĩa và được trả công xứng đáng. 

Thực tế làm nghề hiện nay là kiến trúc sư phải đóng quá nhiều vai, từ thiết kế, tới quan hệ, quản lý, thợ vẽ, với mức thiết kế phí vào loại thấp của thế giới (~2% giá trị công trình so với 8 -10% tại các nước khác). Và như vậy, hiệu quả tất yếu của việc đánh giá chất xám quá thấp, quá khác biệt so với thế giới là vấn đề lãng phí năng lượng, lãng phí tài nguyên, ô nhiễm môi trường... Như vậy là nguồn tài nguyên quan trọng nhất là chất xám đã và đang không được đặt vào đúng vị trí của nó. Đây chính là sự khác biệt lớn nhất giữa thực hiện công trình xanh tại Việt Nam so với các nước trên thế giới./. 

ThS.KTS Trần Thành Vũ - Chuyên gia tư vấn tiết kiệm năng lượng IFC Worldbank Group

(Theo http://ashui.com)

Sự hình thành các quảng trường tại các đô thị trên thế giới và thực trạng Việt Nam

 

Trong những năm gần đây các thành phố lớn của nước ta trong quá trình xây dựng, cải tạo đô thị đã xây dựng không ít quảng trường thật hoành tráng. Nhưng trong bối cảnh chung hiện nay những thành phố lớn khi dân số tăng nhanh, nhu cầu nhà cửa, tranh chấp đất đai diễn ra ngày càng khốc liệt, thì có thật sự cần thiết xây dựng những dự án quảng trường to rộng thật hoành tráng đấy không. Chúng ta xem xét, đối chiếu lịch sử hình thành đô thị của nước ta quảng trường đã ra đời như thế nào rồi so với các quảng trường trên thế giới. Từ đó rút ra kinh nghiệm quản lý, hoạch định phát triển xây dựng quảng trường cho thật hợp lý và đây cũng chính là mục đích chính của bài viết này.

Quảng trường ở Italia, Pháp, Trung Quốc

 

Cittadella

Từ thời Cổ đại La Mã, Athenian Agora quảng trường là yếu tố không thể thiếu trong đô thị. Nói đến nước Ý phải nói đến quảng trường, và nói đến quảng trường thì phải nói đến nước Ý, vì nó có tầm quan trọng không chỉ là nơi đầu tiên hình thành nên quảng trường của nhân loại mà các thành phố của Ý có rất nhiều quảng trường tuyệt đẹp nằm ở trung tâm thành phố, như: Piazze dele Erbee dei Signori, Pizza della Signoria, Pizzae del Campo, Piazza Maggiore, Pizza San Marco, Pizza del Campidoglio, Piazza San Pietro, Piazza Navona và còn rất nhiều quảng trường khác, khó mà đếm xuể.

Quảng trường ban đầu đơn giản là những con đường đông đúc trong đô thị, sau này quảng trường không chỉ là không gian công cộng mà còn hơn thế nữa, đứng trước quảng trường tạo cho ta cảm giác như đứng trước những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc, hội họa và cảm thụ nghệ thuật ấy. Hiện tại trên thế giới, quảng trường nổi tiếng trung tâm ở Ý và Pháp từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 18 đã đạt đến trình độ điêu luyện và cực thịnh. Cấu thành không gian của quảng trường thì ít nhất phải đủ 4 yếu tố và gồm có 10 kiểu (type). Yếu tố tạo nên không gian quảng trường là: (1) Ranh giới của quảng trường phải rõ ràng, bao bọc các tòa nhà, hoặc nhà thờ xung quanh quảng trường; (2) Điều kiện để không gian đóng quảng trường là phần bên trong quảng trường phải tạo thành góc. (3) Mặt đường phải được trang trí hoa văn đến ngoài ranh giới của quảng trường; (4) Tỉ lệ giữa chiều cao các tòa nhà xung quanh và mặt đường phải hài hòa, thống nhất. Từ ranh giới đến trung tâm thu nhỏ không gian theo hướng tâm, ranh giới không rõ ràng thì không gian không hội tụ, nếu không có ranh giới không gian sẽ lan tỏa, phát tán giống như công viên ngoài tự nhiên. Tỉ lệ giữa chiều rộng con đường (D) so với chiều cao công trình kiến trúc (H) khi D/H<1 tạo cảm giác hẹp, D/H càng lớn thì cảm thấy càng rộng (1)

Aversa

Capranica di sutri 

Milano

Đến nước Pháp, người dân Pháp tự hào với Paris tráng lệ có tháp Eiffel, và còn có nhiều quảng trường rộng lớn nằm ở trung tâm như Parc du Champ-de-Mars Place de la Concorde, Place Vendôme, Place de la Bastille, Place Charles-de-Gaulle v.v .. Nơi đây hầu hết là nơi đặt tượng đài, điêu khắc, mĩ thuật mang tính nghệ thuật cao, xung quanh bao bọc bởi những dãy nhà khách sạn, nhà hàng, cafe, các tòa nhà văn phòng. Nơi diễn ra các hoạt động chính trị như phản đối chính phủ năm 2006 tại quảng trường Place de la Bastille.

Place Charles-de-Gaulle

Như vậy ở Châu Âu, thời kì cổ đại trong quy hoạch đô thị đã có quảng trường. Trong khu dân cư đô thị đông đúc phải bảo đảm không gian nhất định là nơi tổ chức hoạt động nghi thức tín ngưỡng tôn giáo, chính trị, trung tâm chức năng không gian công cộng, hiện tại các hình thức lễ hội cũng được tiến hành nơi đây.

Trung Quốc với quảng trường Thiên An Môn được xem là quảng trường rộng lớn nhất thế giới. Nơi đây không phải là nơi để người dân đến, mà cho ta cảm giác xây dựng để thể hiện uy quyền. Nơi đây không có cây cối, thiên nhiên không được thân thiện với con người, mang tính nhân tạo thể hiện không gian vũ trụ. Dù nói là quảng trường nhưng khác cơ bản với quảng trường Châu Âu là xây dựng vì người dân, nơi tập trung dân thành thị, nơi biểu diễn xiếc nghệ thuật, bao bọc xung quanh bởi những công trình kiến trúc bề mặt được trang trí họa tiết đẹp. Vậy quảng trường này chính là không gian chỉ dành cho thiên tử hoàng đế, tượng trưng cho quyền uy. Xây dựng trước Tử cấm thành theo hình chữ T, tiếp nối kế thừa trong quá trình hình thành lịch sử từ thời Đường, Tống qua thời gian dần dần di chuyển từ phía trước cung thành, đến phía trước hoàng thành, cuối cùng sang phía bên ngoài để vừa thay đổi hình, ý thức quan niệm đông tây nam bắc, và để cho không gian người dân dễ tiếp cận hơn, nhưng có thể nói cách khác là mang ý nghĩa thực tế coi trọng chức năng, ẩn chứa không gian biểu tượng cho quyền lực (2).

Thiên An Môn

Mối quan hệ giữa sự hình thành thành lũy và quảng trường

Trong 4 nền văn minh của nhân loại, Mesopotamia, Ai Cập (Egypt) được truyền đến Roma, Hy Lạp (Greece) và được xem là nền tảng cơ bản cho xã hội phương Tây hiện đại. Từ thời cổ đại xa xưa, tại Châu Âu chiến tranh xâm chiếm, chinh phục lãnh thổ, chiến tranh dân tộc diễn ra thường xuyên. Cũng chính vì lí do đó, việc xây dựng thành lũy để phòng xâm lược mang tính sống còn với cả một đô thị, và kĩ thuật xây dựng cũng đạt đến trình độ cao tiêu biểu nhất là tháp London Keep Rectangular. Trên nguyên tắc xây bao bọc cả chu vi đô thị, bảo vệ toàn thể người dân sống trong thành (3). Cũng chính vì lí do đó, ở Pháp và Ý hình thành quảng trường trong lòng của thành lũy, qua thời gian hình thành nên không gian công cộng mang tính cộng đồng cao được gọi là quảng trường (tham khảo bản đồ 1,2). 

Bản đồ 1,2 - đô thị cổ Châu Âu

Còn đối với Châu Á, nền văn minh Indus, Hồng Hà được xem là nền tảng cơ bản cho xã hội phương đông hiện đại. Thành lũy trong quá trình hình thành ở Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam thì được xây dựng nhằm mục đích bảo vệ chủ nhân như vua, quan lại, tầng lớp quý tộc sinh sống trong thành, đối tượng sống ngoài thành là tầng lớp dân thường. Vạn lý trường thành là trường hợp đặc biệt, xây để chống xâm lược từ bên ngoài, nhưng không có tính không gian cộng đồng chung, và đây cũng là sự khác biệt lớn trong quá trình hình thành thành lũy đô thị cổ giữa Châu Âu và Châu Á. Thành lũy ở các nước Châu Á không được xây để bảo vệ cho cả một đô thị, mà Hoàng thành xây để chuyên dụng cho các đối tượng võ sĩ, quân nhân chiến tranh, bảo vệ thành chủ bao gồm vua, quan lại tầng lớp quý tộc v.v... 

Bản đồ 3 - thành lũy đô thị cổ Trung Quốc Tây An thành

Việt Nam với địa hình hẹp, dài diện tích nhỏ, cùng với quá trình hình thành thành lũy có sự khác biệt so với Châu Âu, tư tưởng độc quyền phong kiến không thể so sánh được với Trung Quốc, vì thế quảng trường ở Việt Nam không thể biểu tượng, tượng trưng mạnh mẽ tư tưởng như quảng trường Thiên An Môn. Điều căn bản, hình thái không gian đô thị cũng khác xa, không gian trong đô thị và không gian ngoài đô thị không được phân chia rõ ràng bởi thành lũy, tính không gian cộng đồng trong đô thị không rõ nét (tham khảo bản đồ 3,4).

Bản đồ 4 - Hoàng Thành Thăng Long (Hà Nội, Việt Nam)

Châu Á nói chung và nước ta nói riêng, quảng trường trên phương diện hình thức thì có sự ra đời bằng nhiều hình thức khác nhau, tên gọi quảng trường vẫn được sử dụng, nhưng quảng trường mang ý nghĩa cốt lõi không gian công cộng để người dân sử dụng tự do như Châu Âu khó mà tìm thấy được.

So sánh tính quang trọng giữa quảng trường và công viên, cây xanh nước ta hiện nay

Quảng trường được định nghĩa là khoảng trống và rộng ở trong đô thị dùng làm nơi tụ tập, dân cư trong sinh hoạt của dân cư đô thị vào những dịp kỉ niệm hoặc tổ chức mít-tinh, cũng có thể là nơi tập trung giao thông ở chỗ giao nhau của nhiều tuyến giao thông quang trọng (quảng trường giao thông), cũng có thể là khoảng trống tạo tầm nhìn trước các công trình lớn, trước lối lên cầu ...(4)

Quảng trường Lam Sơn - TP Thanh Hóa

Những năm gần đây kinh tế nước ta có một chút khởi sắc, chính vì thế việc cải tạo, xây dựng đô thị được triển khai khắp nơi, việc xây dựng cổng chào, quảng trường hoành tráng, hầu hết được bê tông hóa như quảng trường Lam Sơn - Thanh Hóa, thiên về tính chơi ngông bề nổi, không thân thiện gần gũi với thiên nhiên môi trường, trái ngược với tính cách của người Việt dựa vào thiên nhiên để sinh tồn. Quảng trường Ba Đình là trường hợp được chấp nhận, vì là không gian cần thiết tổ chức những sự kiện trọng đại của cả nước, mang tính quốc gia. Quảng trường các thành phố khác nước ta trống và rộng nếu chỉ phục vụ cho việc mít-tinh của người dân thì một năm sự kiện mít-tinh và duyệt binh chỉ diễn ra hiếm hoi. Vậy xây dựng một quảng trường chiếm một diện tích không gian rộng lớn, không một bóng cây che mát thì số lần sử dụng không cao và thay vào đó việc sử dụng mục đích sinh hoạt nghỉ ngơi hằng ngày của người dân nếu được nâng cao chắc chắn mang lại hiệu quả cao hơn rất nhiều với mô hình cây xanh, công viên đan xen phù hợp với thực tế hiện tại, môi trường cảnh quan đô thị.

Với quá trình đô thị hóa gia tăng, diện tích công viên cây xanh đang bị xâm hại, lấn chiếm bất hợp pháp diễn ra hàng ngày hàng giờ, diện tích công viên cũng bị "xẻ thịt" bởi giải tỏa làm đường như công viên Hoàng Văn Thụ - thành phố Hồ Chí Minh. So với quy chuẩn xây dựng và tiêu chuẩn Bộ xây dựng ban hành thì diện tích bình quân đầu người ở các thành phố lớn còn quá thấp, chỉ bằng khoảng 1/4 đối với quy định tiêu chí được đưa ra là 6~7㎡/người.

Công viên ở thành phố Hồ Chí Minh bị lấn chiếm

 

Nơi giao nhau tuyến giao thông quan trọng có thể coi là điểm nhấn (landmark) trong đô thị, và cũng không thể coi là quảng trường đúng nghĩa không thể hiện hết được tính không gian công cộng, vì mục đích sử dụng thường ngày của người dân. Điều đó cho thấy định nghĩa thế nào là quảng trường chưa thật sự rõ ràng, dẫn đến nhầm lẫn trong suy nghĩ và cách thực hiện quy hoạch xây dựng loại hình không gian công cộng này. 

Kết kuận

 

Quá trình hình thành quảng trường nước ta trong lịch sử đô thị vẫn có những đặc điểm khác biệt so với Châu Âu, với diện tích nhỏ hẹp, dựa vào cỏ cây mảng xanh thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, với văn hóa không phô trương làm nền tảng cho sự phát triển từ muôn đời nay. Tuy nhiên, trong những năm gần đây quảng trường được xây dựng chiếm một không gian rộng lớn mang tính phô trương. Ngược lại không gian công công cộng gần gũi nhất với mọi tầng lớp nhân dân là mảng xanh, công viên đang ngày càng thu hẹp, cảnh quan môi trường ô nhiễm tiếng ồn ngày càng trầm trọng hơn. Dù với quy định quy hoạch phát triển công viên cây xanh được nhà nước chính phủ, Bộ Xây Dựng phê duyệt nhiều lần nhưng cũng không thể cứu vãn tình trạng ấy. Vì vậy với tình hình như hiện nay có thật sự cần thiết phát triển quảng trường, theo hướng hoành tráng, bê tông hóa hay cần tập trung phát triển mảng xanh, công viên làm nơi vui chơi giải trí, thân thiện với thiên nhiên, điều hòa môi trường sống, sang lọc chất thải khí bụi ô nhiễm môi trường do đô thị hóa gây nên.

Chú thích:

  • (1) 街並みの美学 Thẩm mỹ của đường phố - trang 90~94
  • (2) 北京 都市空間を読む - Đọc hiểu không gian đô thị Bắc Kinh - trang 232~236
  • (3) ヨーロッパの古城  Thành cổ Châu Âu - trang 3
  • (4) Trích dẫn định nghĩa theo từ điển bách khoa xây dựng kiến trúc - trang 381, Nhà xuất bản xây dựng 2003 

Nguồn tham khảo:

  • 都市をつくった巨匠たち Master Builders of City Planning
  • Wolfgang Lotz,Studies in Italian Renaissance Architecture ,the MIT Press, Cambirdge ,Mass,1974
  • イタリアの路地と広場 上  Quảng trường và con hẻm (đường phố), quyển thượng
  • イタリアの路地と広場 下  Quảng trường và con hẻm (đường phố), quyển hạ 
  • 都市と建築のデザイン      Thiết kế kiến trúc và quy hoạch 
  • 北京 都市空間を読む      Đọc không gian đô thị Bắc Kinh 
  • 街並みの美学             Thẩm mỹ của đường phố 
  • ヨーロッパの古城          Thành cổ Châu Âu
  • Từ điển bách khoa xây dựng kiến trúc Bộ Xây Dựng xuất bản năm 2003

Nguyễn Lâm - Gradute Student, Meijo University., M.Eng 

(Theo Ashui.com) 

Giải pháp tổng thể chống ngập ở TP. Hồ Chí Minh

TP. Hồ Chí Minh ở lằn ranh của rừng sác chạy tới biển, từ Tây Nguyên đổ xuống, ăn thấp xuống Đồng Tháp Mười, có diện tích tự nhiên 2.095, 01km2, dân số khoảng 6.480 triệu người, dự kiến đến năm 2025 lên tới 10 triệu người, có gần 60% diện tích là vùng đất thấp dưới 1,5m trên mực nước biển (120.000ha), với mạng lưới sông rạch chằng chịt (7.880km kênh rạch chính).

Xem tiếp...

Chung cư 10 năm: Một giai đoạn cho sự quá độ

Chung cư Việt Nam sau một giai đoạn bùng nổ và phát triển từ thời những dãy nhà tập thể cũ, giờ đã bước sang thế hệ thứ tư.

Đặc biệt, 10 năm qua đã đánh dấu một giai đoạn “quá độ”, 10 năm để nhận thấy xã hội cần gì, đã làm gì và sẽ được gì. Đã đến lúc, chúng ta cần đánh giá, chọn lọc và rút ngắn khoảng cách để có những khu nhà chất lượng bền vững thực sự, tránh tạo nên những khu ở sớm bị xếp vào hàng "rác đô thị" sau

Xem tiếp...

Hình ảnh đô thị


Xem hình ảnh về đô thị Sài Gòn tại đây.